Phan Nhật
Mùa hè đỏ lửa
IV
Trị-Thiên,
Đất vinh danh cho người,
..Nếu được hành quân tái chiếm Quảng
Trị tôi sẽ cúng một con heo. Một người lính
Sư Đoàn 1 đă nói như thế.Không phải câu nói
chơi, phút bốc đồng nhưng là t́nh cảm mănh
liệt tha thiết được diễn đạt
bằng ngôn ngữ giản dị, chơn chất.Giữa
đất và người không c̣n biên giới, người
lính không nh́n các địa danh : Cam Lộ, Hương Hóa,
Trị Bưu, Phong Điền, An Lỗ như những
mục tiêu quân sự, chốn không hồn mà nhiệm
vụ bắt buộc phải đi đến trong một
thời gian và sau đó đợi chờ từng ngày qua
để trút đi dửng dưng lạnh
nhạt.Đất và người gắn bó không giải
thích được bằng lư luận, chỉ cảm
thấy bàng bạc mơ hồ, chứng nghiệm bởi
một trực giác ngây ngất ... Và không riêng cho
người lính sanh trưởng vùng Thừa Thiên, quảng
trị.Những người khác, những sĩ quan, trung
sĩ, binh nh́ sinh trưởng ở Bắc, Nam thuộc các
đơn vị tổng trừ bị, hành quân tăng phái
đến, bước chân đến vùng địa
đầu đất nước ḷng bổng nhiên chùng
xuống trong xúc động lạ lùng ... Nhiệm vụ
hành quân không được nh́n thuần túy như một
công tác quân sự có tính cách bắt buộc, hành quân vùng
Thừa Thiên, Quảng Trị âm vang mênh mông, tính chất
cuộc viễn chinh thánh chiến, đấu tranh giữ
đất, giữ nước, đấu tranh cho một
lẽ sống c̣n.Chiến đấu ở miền
giới tuyến hào hùng như bước chân qua một
bờ lịch sử.Tương lai dân tộc
được quyết định qua vùng đất này.
Đây không phải là một cảm xúc quá độ
được tăng thêm cường lực để
làm dáng trong văn hương nhưng đă đi lính,
đội nón sắt, mặc áo giáp, nhảy trực
thăng xuống Khe sanh đổ quân trên các mỏm
Động Thông, Động Gió, đă di chuyển theo gịng
Tam Giang, qua Túy Vân lúc sương c̣n mờ trên đầm
Thủy Tú hay ngược phía Bắc để đi vào
vùng Phong Điền, Đại Lộc, Phá giăng giăng
mưa bụi, trăng non soi ánh sáng bạc thếch, ánh sáng
chết trên mặt nước lăn lăn sóng nhỏ,
thôn xóm xa lặng trong bóng tối, nghe trong ḷng cơn ào
ạt xúc cảm, thấy rộn ră từng ạt rung
động trên làn da - Đất linh thiêng, huyền bí bao
trùm vây bọc, con người trong đó thấy tan
biến, ḥa hợp vào cùng từng ngọn cỏ, cơn
gió, người thấy đau, đau rơ ràng như nhức
buốt như vạch xanh của sông Bến Hải
vạch đường độc địa trên bờ
cát thênh thang - Đất và người cùng đau với
vết thương quê hương.
Cảm giác trên đă thành h́nh, đă gây nên phản ứng
sinh lư làm dựng sợi lông tay cảm xúc nhưng có thể
không được phân tích, không được rọi
nh́n, định lượng, người lính “thấy” ràng
buộc, thấy mơ hồ, lăng đăng nhưng chắc
chắn, cần thiết như không khí hít vào trong mỗi cử
động.
Trị-Thiên, ngoài đất c̣n có người, người
Huế, người Quảng Trị, người ăn
cơm ghé sắn, người uống nước “chè”
nấu bằng lá ổi, người gọi lính bằng “anh
cộng ḥa ơi ...” Những người đă mừng
rỡ đến ngất xỉu sau mười,
mười lăm ngày dưới hầm sâu, nhịn
đói nhịn khát, đại tiện, tiểu tiện và
ngủ trên cùng chiếc chiếu như trong mùa xuân Mậu
Thân khi nghe ngoài đường phố tiếng lách cách của
báng súng đập vào đùi khi người lính di
chuyển. Lính Cộng Ḥa tới! Lính Cộng Ḥa
tới!Người dân hé cửa nh́n: Trên đường
phố vắng, hai hàng lính đi song song ở lề
đường, đội h́nh, y phục hoa của
Biệt Động Quân hay Thủy Quân Lục Chiến ... Lính
Cộng Ḥa bà con ơi !!Sống rồi bà con ơi
!! Ông già, ngườitrẻ, công chức, cảnh sát
mở toang cửa ào ra đường... Mừng quá
mấy anh ơi, mừng quá !!Mấy anh
ở đây luôn hả ??Uống
nước không?Những người
lính từ miền Nam ra bị vây kín bởi một nồng
nhiệt bốc lửa.Họ là điểm sống cho
thành phố Huế đă đến đáy hấp hối
và tuyệt vọng.C̣n vinh quang đẹp đẽ nào cho
bằng tiếng kêu mừng rỡ của người dân
Huế trong mùa xuân đỏ lửa khi được
sống gởi đến những người lính xa
lạ phong trần.
Đấy là những sự kiện của
mùa xuân năm xưa. Bây giờ, tháng thứ ba của
ngày Bắc quân mở cuộc đại tấn công và
Miền Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên, hai thành phố đầu
tiên hứng chịu tai ương tàn khốc của bom
đạn và người dân của hai thành phố này
lại thêm một lần tay bế con, lưng cơng cha
mẹ già xuôi theo Đường Số I dưới che
chở độc nhất hay niềm tin cuối cùng -
Người lính- Bộ đội cộng ḥa ơi,
cứu bà con, bộ đội cộng ḥa ơi! Trên
đoạn đường máu Quảng Trị, Hải
Lăng, Mỹ Chánh không phải một người,
nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến cùng
gọi lên như thế một lần. Gọi bằng
hơi thở cuối, mồm há hốc, mắt trợn
đứng, gọi khi máu chảy, khi nằm xuốngtan
vỡ, tay lần trên chuỗi Thánh Giá, mắt nhắm
nghiền, trên đầu, chung quanh đại pháo Bắc
quân nổ liên hồi, nổ tàn ác... Đạn nổ không
bỏ sót một phần đất, không quên một thân
người ... Bộ đội Cộng Ḥa ơi
!Người dân lại một lần kêu to lên như
thế. Vinh quang biết mấy cho
người lính Việt
Đất không Vinh Quang riêng cho Lính,
đất c̣n là Thánh Địa cho Người.
Người tầm thường, người c̣m cơi,
người quắt queo khô héo như nhánh “nè” (1) khô rốc
tong teo, lay động dật dờ dưới cơn
nắng hạ chí. Nhưng những người tội
nghiệp, tàn tệ, răng đen, môi nẻ tóc rối,
người mà tai ương đă
hiển hiện lên giọng nói, bất hạnh đă
đặt mầm ở tiếng “khóc kể” bi ai hờn
oán. Bất hạnh cũng đă có “điềm” ở
giọng ḥ thê thiết đến rợn da khi những con
thuyền chập chùng trong bóng tối lướt
thướt trên sóng qua Bảng Lảng, Ngô Xá, La Vân, La
Chữ, Vân Tŕnh.a ... ơ ... chỉ hai tiếng nhỏ con
thuyền đi hết khúc sông mà âm thanh c̣n lộng trong gió
... Đă có “điềm” rồi nên dân Trị Thiên dù không
cơm, không gia, không nương, rẫy bái vẫn tồn
tại và sống c̣n.Họ sống bằng ǵ và như
thế nào ?Chuyển hết tháng ngày đi quakhông cũng đủ
là một việc vĩ đại ... Rất vĩ
đại ... Rồi ba tháng máu lửa này, chui dưới hầm,
ăn khoai sống, hứng chịu ngàn trái đạn
của hai bên ... Ngày Hải Lăng vừa được
quân ta tái chiếm, đồ đạc cho vào thúng sau,
thằng con ngồi thúng trước, người đàn bà
nhỏ quắt queo gánh “gánh đời” đi thoăn
thoắt trên mặt cát trắng bầy nhầy lớp
thịt người ... Người trị Thiên có “tài”
đi nhanh nhưthế đă bao năm ??Có anh phóng viên
đài truyền h́nh chận hỏi :
- Chồng và mấy đứa con lớn đâu ?
- Chết hết rồi ... H đem đi băm,
vằm, chém nát, chôn sấp dập ngửa mô không biết !!!
- Bây giờ bà đi đâu ?
- Hí ? Người đàn bà
nhà quê không hiểu câu hỏi.
Cho dù hiểu đi nữa th́ bà ta cũng không biết
đi đâu ... Quo vadis ? Mày đi đâu ? Chúa có hỏi đi
chăng nữa người cũng không trả lời
được ... Đi đâu? Ngày đă hết,
đời đă hết, chỉ c̣n mỗi con người
lừng lững cùng nỗi đau đớn mịt mùng
hư không
Về quê hương điêu tàn,
Phi cơ đến Huế lúc một giờ sáng tắt
đèn từ trên cao khi lấy hướng đáp, thấp
xuống, thấp xuống chút nữa, trên một độ
cao cần thiết, đèn ở cánh được bật
cháy, chúi xuống và bánh chạm đất, đèn lại tắt.Không
một phi trường nào im lặng và tăm tối
bằng.Pḥng tối, ngổn ngang lính nằm, những
người lính tóc rối và râu rậm, họ ngủ
mệt nhọc và trăn trở, giấc ngủ đứt
khoảng khi có tiếng động của bước chân
đi đến dù tiếng động cực nhỏ,
những đôi mắt đỏ hoe mở ra xong khép
lại.Gần trăm con người không ngủ, họ
chỉ nhắm mắt và nằm ... Ngủ, h́nh như
họ đánh mất sự nghỉ ngơi này, mất
đă lâu, từ hơn hai tháng trên các căn cứ vơ
Định, Diên B́nh dọc quốc lộ 14.Ngủ chỉ
là trạng thái chập chờn của đôi mắt khép
lại nhưng tai lắng nghe ... Nghe tiếng nổ
hoặc tiếng départ của pháo nơi xa ...
Chẳng có vẻ ǵ để gọi là chiến tranh
loạn lạc và điêu linh nơi chúng tôi đang
đứng trong buổi sáng đầy nắng vàng và gió
từ sông mang hơi nước dịu nhạt bay
đến.Xóm Mỹ Chánh đổ nát v́ vụ dội bom
lầm hôm mồng 5 khúat sau rặng tre, chiếc cầu
gỗ cháy từ bao ngày trước c̣n bốc khói, nhịp
cầu sắt bị đổ xuống không đủ
cường độ để gợi lên không khí bi
thảm của trận chiến vừa xẩy ra cách
đây mười ngày trên con đường nhựa bên kia
sông, nơi băi cát đ́u hiu lặng đứng những khóm
tre c̣m cọi ... Những tang thương trầm thống
của những ngày qua tan byến trong ánh nắng
đẹp đẽ vàng rực của buổi sớm mai
này.có tiếng chim cu gáy ở bên kia sông, tiếng chim mộc
mạc ấm áp như giọng cười khúc khích của
đứa trẻ.
- Đấy, toa thấy cái lũy tre ở
đầu con sông nơi chỗ quanh của con sông không?
Liễn chỉ tay về hướng
đông, nơi con sông quanh một ṿng thật đẹp để
đổ vào phá Tam Giang.
- Ờ, tôi thấy rồi, ch đó tôi đă đóng
quân.Làng nội tôi đấy, làng Vân Tŕnh, tên nghe hay không,
mỗi vụ hè tôi về đây chơi, năm mười
tuổi đă lội qua sông này được ... Hai
mươi năm sau cho bạc triệu tôi cũng không qua
được bên kia một ḿnh.
- Ừ.Tôi lơ đăng nh́n theo con sông, nơi này mùa đông
xưa tôi đứng trên bờ đợi Mễ cởi áo
bơi qua sông mua rượu, phía trái nơi xa có băi
đất bồi thửa ruộng, bắp lên những lá
xanh ngắt ...
- Người miền Trung cc quá, không đủ
đất trồng lúa, có chút đất bồi là bám vào
ngayBa mươi cây số từ núi ra biển không có chút
đất màu, toàn cát và cát, cằn cỗi xám xịt không
như cát vùng Nha Trang, Cam Ranh.
Súng nổ sát bờ sông, súng nhỏ, Bộ Binh Bắc quân
mở đường, đánh thăm ḍ ... Chúng trở
về nơi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Phúa đang báo
cáo với Lữ Đoàn.
- Đó là tiền phương bbbộ binh của tụi nó
xuống quan sát ḿnh, chẳng hiểu nó bắn súng cối
và 57 như vậy để làm ǵ ?C ...
Mày gọi pháo binh làm mười tràng vào nơi yếu
tố mà toán viễn thám ghi nhận tiếng départ.Phúc nói
với Tiền, sĩ quan ban 3.
Pháo từ Phong Điền rơi lên ào ạt.Bắc quân
ngưng tác xạ, họ xuống hầm hay đă bị
chết, không biết được, những đám
bụi do đạn nổ bốc lên tan đi thật
nhanh, chỉ c̣n luồng khói đen cuồng cuộn bốc
cao.Một ngôi nhà bị cháy.Có tiếng gắt của anh
Phúc : “ Tụi nó đặt súng ở đấy th́ xin
bắn ở đấy, làm sao biết viễn thám đêm
vừa rồi có ngửi đúng hay không ?Tiên sư có
vợ, bị cặm sừng cũng đếch biết
nữa là ...” Anh ném cái ống liên hợp vào một góc nhà tụt
xuống hầm chỉ huy xỏ chân vào đôi dép đi vào
nhà thờ ...
Đường về, trời nắng gió im buổi
trưa mùa hè miền Trung bốc cháy toàn thể cảnh
vật, núi im ĺm rung rinh sau lớp hơi đá mờ
nhạt, người lính bị thương ngồi
băng sau gác bàn chân sưng đỏ máu đẫm
ướt cuộn băng bày.Qua Phong Điền, xe bị
kẹt, ngừng lại dưới tàng cây nh́n Pháo binh TQLC
di chuyển cho cuộc hành quân đang khai diễn. Họ nh́n
tôi ṭ ṃ, áo lính Nhẩy Dù đi xe TQLC, tóc dài và chiếc máy
ảnh ở ngực ... Tôi trông chẳng giống ai !Tôi cũng biết thế nên lúng túng
đưa máy h́nh lên chụp loạn xạ.Ôi tôi hành
nghề báo.Có một điều ǵ buồn buồn trong
thân.
Mỹ Chánh không có ǵ, quả thật vậy, tôi về Sài
G̣n, thay lớp áo quần dơ và ướt, uống ly rượu
có đá lạnh, chạnh nhớ những người
bạn ở nơi xa đang ao ước một tờ
báo, dù tờ báo đă cũtừ ngày 30 tháng Tư ...
Điều này làm ḷng tan vỡ, những người
sống trên khổ nhọc miệt mài, trong núi xanh, trên
cồn cát, những “sinh vật” lính quen thuộc và thân ái
bị quay cuồng níu kéo hoài vào gian nguy triền miên ... Không
phải chỉ có ở Mỹ Chánh với Trâu Điên,
nhưng khắp cùng đất nước, từ núi cao
xuống đồng bằng, có đủ trên mỗi
phần đất của quê hương.Mỹ Chánh không có
ǵ ngoài hai xác chết bên kia sông cạnh chiếc xe tăng
bị cháy, tiếng nổ B52ầm vang đều
đặn và núi rung rinh, cây cầu bốc khói xám. Những
người và cảnh chết này có nổi yên nghỉ riêng,
ḷng có xốn xang là h́nh ảnh người lính mang dép
Nhật, chống cây gậy đi trên thôn xóm tan vỡ,
người lính không đầy 20 tuổi ... Em bị thương !Chỉ c̣n tiếng nói và h́nh
ảnh đó đè nặng ở đỉnh đầu,
tay tôi run và nặng khi viết những ḍng chữ vô
nghĩa này.
Quả bom chiến lược hay viên đạn súng colt
chỉ gây một tiếng nổ, cũng chỉ viết
thành “một chữ” trên trang giấy, nhưng trầm
thống của con người th́ mênh mông.Chữ nghĩa
vô tri viết được mấy cho vừa.
Huế c̣n thở,
Huế sống, chắc chắn như thế.Sống v́
trong ḷng Huế có những kháng tố âm thầm lặng
lẽ, những phản ứng kín đáo mang sức
mạnh sinh tồn của con người khi bị ép
đến cuối chân tường, đưa đôi tay
tuyệt vọng lên đầu, đánh đ̣n quyết
tử để vượt qua biên giới giữa
chết và sống.Huế sống, dù mệt mỏi, tàn
tạ đau đớn, tất cả phải
được vượt qua, qua hết để gánh
chịu nỗi kiêu hănh ngậm ngùi của một dân
tộc tồn tại sau hằng hằng điêu
linh.Huế phải sống v́ số kiếp bi tráng thê thảm
đó.quê hương tôi không chết được ...
Huế c̣n thở.
Quê hương, nghe như lời mai mỉa, như tiếng
cười khủng khỉnh lạnh nhạt.Quê
hương đó và tôi xa lạ, lạ từ
đường tóc gịng máu, lạ ở tiếng nói cách
cười, xa lạ hoàn toàn trong lối sống và nh́n
đời.Nơi chốn đó với tôi có mộtcách xa
không bù trừ được.Nhưng tôi phải nhớ
đến Huế, phải nghĩ đến, phải đau
đớn bồi hồi khi đi lại trên những con
đường vắng bóng người, không phải
sự vắng vẻ yên tĩnh của hàng cây xanh lá vang
động tiếng ve.Sự yên tĩnh ỡ đây nín
lặng và đau đớn như ngôi nhà đóng cửa
với tấm bảng “Nhà đang có chủ ở.”Gịng
chữ không làm nóng không gian, chỉ tăng thêm sự run
rẩy lo sợ thiếu hơi ấm của
người.Tôi đến Huế vào ngày Huế vừa hé
cửa như con voi già mở đôi mắt nhỏ từ
đồi cao nh́n xuống đám rừng xưa nơi
phần mộ của gịng giống nó.Con voi chưa chết
được, Huế vẫn thế, Huế chưa
đi hết đời của ḿnh, Huế đang
sống, c̣n sống. Tôi đau đớn ngất ngư,
thấy nhói ở trong ḷng, từng cơn đau có thật
khi đi qua cửa Chánh Tây bị đổ nát, qua các
khẩu súng đồng mà ngày nào trong thuở nhỏ, hai
mươi năm trước, tôi ao ước
được ḅ lên ngồi trên đầu ṇng súng rồi
nhẩy từ đây xuống.Tôi phải đau với
Huế v́ thấp thoáng trong không gian mờ nhạt của
Huế co ro ướt át, tối mùa đông năm 1949,
cầu Gia Hội đang sửa chữa, tôi loay hoay lạc
lối trên những con đường Ngự Viên, Trung
Bộ, lạc qua cầu Đông Ba về đến
cống Phát Lát, thằng bé đội nón cối trắng và
đi ba ta quai chéo, quần dài xanh có tấm yếm
trước ngực “để che gió máy” Tôi đấy, tôi
của tuổi ấu thơ hỗn độn những
rung động chưa đặt tên trong một thành
phố âm thầm thê thiết.Tôi đau với Huế,
phải nhức nhối từng hồi, giật giật
ở thái dương khi nh́n cảnh người đàn bà
tất tả gánh đứa con đi trên đường
Hương Thủy, Gia Lê, hai vạt áo dài đen đánh phần
phật vào đôi chân luống cuống.Thuở xưa
cũng thế, cũng chạy giặc, cũng “vỡ mặt
trận,” cũng tan nát lửa đỏ và điêu tàn
hừng hực. “Tây từ bên Ṭa Khâm đánh qua, mẹ
bỏ con trong thúng và gánh đi trong lửa đạn”.
Thế nên tôi phải đau cùng Huế, dù quê hương
đó bạc đăi, phân ĺa..
Huế sống, cũng như sau bao nhiêu đại
loạn, Huế chậm răi chắc chắn chống
gậy, lấn từng tấc, từng phân dựng
đứng cơ thể tàn tạ và hồi sinh.Lần này
cũng vậy, sau khi mất Đông Hà và Quảng Trị
bị vây khốn, đồng bào Quảng Trị băng
qua vùng Hải Lăng, Lương Điền chạy
về Mỹ Chánh, dân Mỹ Chánh nhập vào lui xuống
Phong Điền, An Lỗ ... Nhưng Phong Điền, An
Lỗ đâu phải là pḥng tuyến “tử thủ”
được ; hai con sông cạn đáy phơi ḷng cát khô khan
dưới mặt trời hạ chí ... Những
người dân này lui thẳng về Huế ... Và Huế bắt
đầu thất thần hoảng hốt.Nhưng vẫn
rất nhiều người tin tưởng: “Phe ḿnh
giữ được Quảng Trị, can chi mô, vài bữa
ḿnh lấy lại Đông Hà mấy hồi ...” Nhưng
niềm tin tin tưởng như quả bóng căng hơi
sau khi nhận mũi kim đâm ngập.Quảng trị
mất, mất chưng hửng tức tối.Biệt
Động Quân nương nhau dọc quốc lộ
về Nam, thủy Quân Lục Chiến co lại, tiểu
đoàn này đỡ tiểu đoàn kia rút gần xuống
Mỹ Chánh và sư Đoàn 3, không phải lỗi ở lính,
ở cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không
ở Tướng Giai (chưa có thể kiểm chứng
được) tan vỡ một cách phi lư, ba trung đoàn dù
bị thiệt hại từ ngày đầu tháng 4 vẫn
c̣n đủ quân số, vũ khí, phương tiện liên lạc,
bổng nhiên như viên đá nhỏ tan trong ly nước
bốc khói.Một đại đơn vị vỡ tan trong
bất thần kinh ngạc, dân và lính đưa nhau chạy
giặc đổ về Huế như cơn nước từ
nguồn băng qua bờ đê cát nhỏ.Và Huế
dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị nổ
bùng, vỡ nát như ánh lửa điên loạn bốc cháy
chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân
đói, Huế vỡ tan.Vỡ dưới ảnh
hưởng kinh khiếp của Mậu Thân, giặc vào và
ta chết, chết từng loạt.
Huế hốt hoảng v́ viễn ảnh
thấp thoáng toán lính mang ngôi sao vàng sục sạo khắp cùng
ngơ ngách, đường hẻm để t́m địch,
giết Ngụy. Huế sợ và bốc cháy lo âu ...
Người xuôi
Bây giờ là buổi chiều.Huế đang ở mùa hè,
phượng đỏ, mặt nước sông Hương
loáng ánh nắng.Tôi đi dọc bờ sông, chiếc cầu
mới quá tân kỳ, chân cầu vây kín giây kẽm gai
đề pḥng thủy lôi không hợp với nét cổ kính
tàn phai xứ Huế, công trường Phú Văn Lâu tiêu điều,
lá xanh không che nổi sức nóng.Nơi này, thuở xưa xa
lắm, tôi lang thang nhặt những hạt cườm
đỏ có chấm đen từ cây rụng xuống,
đứngở bồn hoa nơi có bốn con rồng luôn
phun nước đưa bàn taynhỏ e dè hứng những
hạt nước long lanh bắn tung tóe trên ven bồn
đá xám.Bờ sông xưa nay cỏ dại mọc
đầy, những viên đá nâu đỏ của lối
đi không c̣n nữa thay vào đấy lớp đất
cát tung bụi dưới bước chân.
Cầu trường Tiền không c̣n vang tiếng guốc và
chập chờn những tà áo trắng, nhưng đă có bóng
người và màu sắc.dọc theo đường
Trần Hưng Đạo, bến xe, quán ăn, tiệm
nước đầy thực khách, người ở
Đà Nẵng trở về nhiều hơn người ra
đi.Dấu hiệu tốt ở tiếng thở dài
nhẹ nhơm của người hành khách khi bước
xuống xe - “Rứa mà tui nói không ai tin, Huế có chi mô mà
sợ ...”
Trời sập tối, tôi leo hàng rào nhẩy vào căn nhà
người cậu ... A! Cậu đây
rồi.Ông cậu quắc thước khỏe mạnh ngày
xưa không c̣n nữa, trước mắt tôi chỉ có
một ông già, tóc và râu trắng bạc. Cậu run tay,
mắt mở lớnnh́n thằng cháu hoang đàng trở
về trong lúc trời hết nắng, ngày tàn ... Con
đấy hả,û trời ơi ... Lâu chẳng biết con
ở đâu, con đến lúc cậu đang cúng bà
ngoại, cúng bà với bát muối mè và cái bánh chưng !
- Cậu không đi đâu ?
- Không, Mậu Thân cũng vậ;;y, cậu ở nhà, hôm nay
lại là ngày kỵ bà, cậu không đi đâu hết !!
Chị tôi ở bếp lên, chị Nga đẹp đẽ
đài các của ngày xưa cũng đă thay đổi,
đấy là một người đàn bà mà chịu
đựng đă đầy làm xạm mái tóc xanh ...
- Chị ở Đà Nẵng ra với cậu, chị tin
sẽ không có một chuyện ǵ nữa, tất cả
mọi chuyện cũng thế thôi.sống là
được, sống là hạnh phúc rồi ...
Tôi ăn bữa cơm gia đ́nh sau bao nhiêu năm cách
biệt.Đi ra khỏi nhà trong bóng tối dày đặc,
đèn đường không có. Lối đi nhỏ lẫn
trong đám hàng rào lá chè xanh dầy kín.Dọc trên
đường về sân bay Tây Lộc, hào bên phải bay
ngát hương sen - Mùa hè rồi, mùa đẹp nhất
xứ Huế, mùa củađêm trăng nhỏ giọt qua
cành lá, bánh xe đạp rong ruổi trên đường
nhựa vắng, lưng người con gái chuyển
dịch bí ẩn sau chiếc áo mỏng và một khối
tóc đen đong đưa kỳ ảo theo bước
chân, ẩn hiện bất chợt qua những hàng dậu
lá che dầy đặc.Mùa hè sống động kỳ
ảo của Huế đấy, bao giờ có lại
những ngày xanh huyền hoặc đó, không c̣nnữa,
tuổi nhỏ đă qua đi rồi ... Qua một quán
nước, ánh nến vàng mệt, cô gái bán hàng rạng
rỡ giữa một đám lính trẻ, Quán Lưu Khách.
Một đời sống khác của Huế bắt
đầu, bắt đầu lại trên hoang tàn nhưng
c̣n nguyên cách thế phong lưu của hương sen kỳ
vị đậm ngát một vùng trời đất.Trên
cực điểm của trầm thống, bên cạnh
những hào xưa thành cũ, những người tuổi
trẻ ở Huế sẽ lớn lên, gạn lọc,
tập trung năng lực để tồn tại và khia
phóng ... Ước mong quê hương đó lớn
đẹp và khỏe mạnh như tiếng cười
ḍn dă thẳng thắn của cô gái hồng sáng dưới
ánh đèn dầu. Ước mong như
một tạ lỗi muộn màng.
Bay trong hoàng hôn,
Tàu không bay thẳng ra đèo Hải Vân, nhưng bay dọc
theo bờ biển ra Nam Ô.Trời đă chiều, nắng
hết chỉ c̣n “dư âm” của ánh vàng trên cây
cỏ.Từ trên cao nh́n xuống, biển Thanh B́nh ngày nào
không c̣n nữa, nhà lấn ra sát mặt
nước,nước xanh đục lợn cợn rác,
bọt vàng của rêu và chất dơ.Hết cả
rồi, chốn xưa, ngày mới lớn, đêm hè trong
vắt lấp lánh sao, nửa đêm về sáng ngồi
dậy đốt vỏ bánh xe nh́n ánh lửa, nh́n
đại dương, nh́n Tiên Sa đen thẫm cùng Hải
Vân ṿng đường kín đặc, ṿng núi hở một
khoảng ở hải đăng để thấy
biển phía xa xanh xao dưới ánh trăng non.Mơ
ước ǵ trong đầu óc tươi trẻ đó
?Không biết, chỉ thấy ḷng mênh mông thênh thang bay lên
tiếng hát âm thầm phơi phới.Hết, chiều nay
trên độ cao gió lạnh nh́n xuống biển xưa
vấy bẩn và ḷng nặng trĩu nặng phiền
phiền.Máy bay dọc theo biển để thấy
rừng dương ở Nam Ô xơ xác, trơ rụi.Ôi khu
rừng thơ mộng của ta mười bốn năm
trước thế này sao.Rừng không c̣n, chỉ c̣n khu
vườn dương liễu cằn cỗi, bờ cát
vàng dốc đứng nay cũng thấp xuống tan hoang
... Không c̣n ǵ nữa, quả thật không c̣n ǵ nữa,
như tuổi thanh xuân đă mờ khuất đi.Qua núi Nam
Ô để thấy lại bóng mẹ xơa tóc ngồi hong nắng
... “Mẹ con ḿnh là người đầu tiên ở Đà
Nẵng đến tắm ở đây ...” Mẹ đă nói thế
để khích ḷng “giang hồ vặt” của con trai.Đà
Nẵng - Nam Ô 10 cây số đường dài quá xa cho
một tuổi mới lớn.
Năm phút máy bay đủ đi hết một quăng
đời niên thiếu, mau thật.Tôi tưởng như
vừa qua lớp mộng dài.
Gió lạnh, phi cơ đă đâm thẳng ra biển
để vượt Hải Vân, đỉnh núi bên trái
phủ mây trắng, đường nhựa ở trên,
đường xe lửa ở dưới, thấy rơ
trước mắt h́nh ảnh đứa nhỏ tóc bay
đưa chiếc đầu ra khỏi cửa sổ thành
tàu nh́n xuống đại dương đen ồn
tiếng sóng, sóng bạc đầu xô đẩy vào rà.Sâu
hun hút, tưởng dưới xa như là chốn ngh́n trùng
không đến được ... Sửa lại thế
ngồi đỡ mỏi chân, cong hai đầu gối sát
ngực cho bớt lạnh.Lại giống h́nh ảnh
đứa bé đêm trừ tịch năm nào ngồi co ro trong
một chiếc xe hàng trên đỉnh đèo sương
phủ và gió rét.Tôi sống torng hai thế giới, trong hai
chốn thời gian lúc trực thăng đổicao
độ vượt đèo ... Ḿnh là ai ?Đi đâu ? Mong
ước ǵ ?Hơn mười năm
chưa thấy rơ ḿnh.Đời khó thật.
Trời vẫn c̣n sáng trên không, thứ ánh sáng mờ mờ
của bóng tối sắp đến, xuống ở
độ thấp 100 thước.100 th.
để thấy rơ từng nếp nếp nhà, sân
đất, giậu tre và những cánh đồng xanh.quê
hương b́nh yên và đẹp vô ngần trong ánh sáng
cuối cùng của một ngày.Đầm Thủy Tú lăn
tăn sóng nhỏ trẻi dài như một thỏi kim
cương xanh.Đầm mênh mông lặng lẽ dạt
những ṿng tṛn xôn xao khi trực thăng bay qua, núi Túy Vân
ấn một nét đen đậm dịu dàng trên không gian
và mặt hồ xám bạc.Túy Vân Sơn, tưởng
tượng đến h́nh ảnh ngày xưa đoàn
thuyền lộng lẫy của Hoàng Gia trôi theo gịng
nước đến nơi này neo bến và tiếng chuông
cuối ngày lồng lộng trên sóng nhỏ tan dần vào
hư không.Chiến tranh mệt mỏi của ngày dài di
chuyển tan nhanh như sương mỏng, tôi mở to hai
mắt, dựng đứng hết xúc cảm để
nh́n hết, lấy hết toàn khối quê hương đang
nằm dài yên lặng dưới xa - Không thể có nơi
nào đẹp hơn quê hương ta !Câu nói của
cuốn sách thơ ấu được lập lại
không định trước.Phải, quê hương ta quá đẹp,
vẻ đẹp mộc mạc, b́nh lặng cao cả, quê
hương là thiên nhiên cô đọng, quê hương tan
biến ḥa hợp vào cùng vũ trụ.Núi không cao,
đầm không rộng, nhà mái tranh, con đ̣ nan mảnh mai
trôi lững lờ trên sóng nước hiền ḥa, khuôn
đất nhỏ vàng nhạt, từ trên cao vẫn
tưởng được độ cứng và vẻ bóng
bẩy phẳng lặng in từng đường chổi
mới quét qua ... Quê hương thương yêu nồng nàn
dưới đó, dưới độ cao 100
thước, trên lưng đàn trâu về chuồng, cong
đôi sừng nghếch khuôn mặt chịu đựng,
giương đôi mắt vơ vàng nh́n tiếng động
trên không.Ḷng bồi hồi run rẩy như vừa qua
khỏi chốn linh thiêng ... Bao nhiêu phần đất
của quê hương c̣n đượm vẻ thanh b́nh này
?Chắc c̣n rất ít, hay chỉ c̣n lại trên ảnh trên
tranh, trong trí tưởng, trong ao ước ... V́ khi máy bay
vừa đến Huế, nhận được lệnh
di tản thương binh, phi hành đoàn chỉ kịp và
vội miếng cơm, lấy tọa độ băi đáp
và tầng số làm việc, bay liền hướng
Hương Điền dọc Phá Tam Giang.Tiểu đoàn 6
và 8 TQLC vừa đụng trận.
Trời sập tối, cảnh vật xanh xanh xám xám, chút
sương mờ đă dâng lên từ mặt
nước.trực thăng qua La Vân, Hương Cổ,
Quảng Điền, những nơi chốn quá quen byết
bao nhiêu lần xuôi ngược trên bờ lúa dọc con sông
xanh thẫm lác đác những lá tre già.Tàu vượt Phá Tam
Giang - A! Lại một chốn xưa huyền bí - Phá mông
mênh bí mật u trầm, phá xôn xao chuyển dịch những
lượn sóng xuôi ngược, phá nồng nàn say sưa
như tuổi nhỏ khi đọc đến câu “Yêu em anh
cũng muốn vô.Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam
Giang.”Vật biểu lượng ngăn trở t́nh yêu là
đây, tôi nhớ lại được nỗi rung
động náo nức của tuổi mới lớn.. Nhưng bỗng nhiên như luồng sét
thật mạnh đánh sát mặt, như kẻ bị
phụ t́nh trong giờ khắc say đắm nhất, tàu
đă bỏ mặt nước xanh để bay lên vùng cát
trắng.Tôi lao đao như từ ánh sáng vào bóng tối, tôi
tóe lửa ngộp ngộp hơi thở như gió thổi
mạnh đập vào mặt.Nỗi mơ mộng tan
vỡ, vỡ bùng không c̣n chút níu kéo.tôi đang bay trên một
quê hương điêu linh, không thể trốn chạy
được ... Lũy tre xanh, bọt sóng đầm xô
đẩy, núi Túy Vân lặng lẽ, mảnh vườn đất
phẳng, nụ cười sáng, bàn tay vẫn trên
đồng xanh không có giá trị ǵ nữa.Quê hương
đẹp đó quá ít, quê hương này, quê hương
dưới chân, trên cát trắng quê hương trải dài
theo biển từ Thế Chí, Đại Lộc qua Mỹ
Thủy, Triệu Phong mới thật sự điển
h́nh cho tàn tạ, tàn tạ tuyệt vọng câm nín của
những “ổ” nhà nằm rải dài trên 30 cây số ngút
ngàn lặng lẽ.Ba mươi cây số không nhà, chỉ
độc một chuỗi ổ chuột sùm sụp ép ḿnh
trên cát, chơ vơ thụ động dưới mưa
bom và đại bác - Tội quá trời ơi, năm xưa
1967, khi qua vùng này đă phải cúi ḿnh xuống làm đôi
để nh́n một gia đ́nh một mẹ năm con
ngồi ôm lấy nhau dưới mái lá như vượn
mẹ bồng con ngồi co ḿnh nh́n lũ người cay
độc ... Bao ngày qua, đời sống dưới mái
lá đó càng thêm độ thê thảm.Không đồng lúa,
không nghề chài, họ ăn ǵ, lấy ǵ để
sống qua hằng hằng tháng ngày tân toan, rồi lại
thêm bom rơi đạn rớt, bom đạn không phải
chỈ một cơn một lúc nhưng phủ đầu
và ngập mặt.Trước 1967 đến bây giờ là
bao lâu ?C̣n con người chăng trên băi cát trắng
dưới những “ổ” lá nằm rải rác trên dải
quê hương điêu tàn đó ?Có đàn lợn đi lang
thang trên bờ biển, loài thú tầm thường b́nh yên,
không thích hợp với hùng vĩ của đại
dương chạy tán loạn khi nghe động cơ vang
nổ ... Chữ Gia của tiếng Hán đuọc biểu
tượng bởi một mái nhà dưới có chữ
Thỉ - Trên giải đất không nhà này đâu c̣n nơi
nương náu cho loài thú tội nghiệp kia - Người
sống làm sao được trong tan nát này hả trời
?Câu hỏi buồn cười tội nghiệp vang âm
thầm làm nhói cơn đau nhức nhức ở nơi
ngực.
Không thể gọi là “dăy phố buồn hiu”
nhưng phải gọi “dăy quê hương thê thảm,”
cũng chưa đủ cho nơi chốn tàn tạ
hấp hối này.
Dậy đường tử khí,
Không khí tàn tạ của vùng Mỹ Thủy, Hương
Điền, vẻ đau đớn lạnh cứng
của xác người lính Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu Đoàn 8 khi gió thổi lớp Poncho dán chặt vào
mặc để lộ chiếc đầu tṛn sống
mũi thẳng, năm ngón tay tái xanh có những móng dài
đầy đất của tối hôm qua trên trực
thăng không c̣n nghĩa lư ǵ so với cảnh tượng
trước mặt.
Tôi đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị
kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xă Hải Lăng..Không
thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không
thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng
trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có
thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi
chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ
nhạt, mũi phập phồng.Không có thể biết ǵ
về thân thể đang mở ra trước sự tàn
khốc trước mặt.Trời ơi !
H́nh như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược
ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc
năo, hay chỉ là ảo giác của con người mất
hết khả năng kiểm soát.Kiểm soát làm sao
được nhịp đập của quả tim, không
ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi
mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái
dương phồng lên đập xuống - Mệt, máu
chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó
nhọc trong những gân căng đến độ chót
... Cũng không phải như thế - Tôi không biết, hoàn
toàn không biết được ǵ của xác thân.
Tôi không c̣n là người đang sống, v́ sống là
sống cùng với người sống, chia xẻ vui
buồn, đau đớn lo âu với người
sống.Chung quanh tôi, trước mặt chỉ c̣n một hiện
tượng, một không khí - Chết.Phải, chỉ có
sự chết bao trùm vây cứng.Chỉ có nỗi chết
đang phơi phới bừng bừng che kín không gian.
Đă sống trong cảnh chết của trận
Đồng Xoài năm 65, trận B́nh Giả năm 64,
đă nằm cùng, ngủ chung với xác chết qua một
thời gian dài, nhưng bên cạnh những nín lặng
đau đớn của những cái chết này vẫn c̣n
tiếng nói, tiếng động của người
sống dù là tiếng khóc vật vă, lời kể lể
thống thiết của những người mặc
đồ tang lăn lộn trên xác chết đă śnh
chương mới được kéo về sau bẩy ngày
tử trận.Những cảnh chết c̣n không khí người
sống, tôi chịu được - sự chịu
đựng khốn mạt chỉ có chiến tranh mới
dạy được cho người.Và mới gần
đây, An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ
tập thể, những cái chết câm lặng đến
độ chót của đau đớn kinh hoàng,
người cha trầm tĩnh đi t́m từng cái chân, cánh
tay của năm đứa con vừa bị tan thây v́
quả đạn đại pháo, nhưng lại c̣n
được một nấc chót - Bên cạnh người
chết vẫn có người sống - Người
sống, dù với thể xác vô tri, đi đứng
hcuyển dịch như thứ người cuồng tín bi
thảm - Người điên buồn, điên lặng,
điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược,
thấm đẫm, trĩu nặng từ tế bào
thần kinh - Dù sao cũng là Người Sống.Ở An Lộc,
tôi c̣n thấy được loại người cuối
đáy đau thương đó.An Lộc lại quá nhỏ,
chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô
đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và
gọn như nhát dao ngọt.Cái đau đến chớp
mắt, người chưa kịp chuẩn bị th́
đă lún hẳn vào trong ... Tôi cũng chịu đựng
nổi, gồng ḿnh mà chịu, chịu được
như chiếc bóng căng phồng khí độc.
Ở đây, Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm th́ khác
hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng,
tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một
chặng, dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số
đường này là 9 cây số trời chết,
đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết
trên đầu ngọn lá, chết vương văi từng
mảnh thịt, chết từng cụm xương
sống, đốt xương sườn, chết lăn
lóc đầu lâu, chết ră rời từng bàn tay cong cong
đen đúa ... Nhiều quá, 9 cây số hay 9000
thước, mỗi thước trung b́nh hai bộ
xương tung tóe, vậy tất cả là bao
nhiêu?Chỉlấy con số trung b́nh v́ có chiếc xe
hồng thập tự chổng bánh vỡ sườn
để lộ những bàn chân đen tḥng ra ở cửa
đằng sau ... Chiếc xe Honda gẫy đôi, c̣n xót
lại hai đôi dép Nhật, người ở đâu ?Không
làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu
người nọ ... Chiếc xe công binh ủi một
đường dài, những xác chết, không, phải nói
những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật
dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống
rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất
nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt
nhựa - nhựa thịt người !!Trời nắng,
đồng trắng, con đường im ĺm, động
cơ chiếc xe ủi đất - phải gọi xe
ủi người mới đúng - vang đều
đều, hơi nắng bốc lên từng
đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi ...
Vạn vật chết trong ḷng ánh sáng.Ánh sáng có mùi
người
Làm được ǵ bây giờ? Bịt mũi, che mồm,
nhưng tất cả vô ích, hơi chết đọng trên
da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi trôi
theo máu. Tôi đang đứng trong ḷng
của sự chết.Tránh làm sao được, ai có thể
ra khỏi khối không khí của nơi sống?Những
cảnh chết tập thể của người Do Thái
ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc
động v́ người chứng kiến thấy
được “xác người,” xác chồng chồng
lớp lớp có thứ tự, gọn ghẽ nguyên
vẹn... 9 cây số đường chết của
Quảng Trị không c̣n được quyền dùng danh
từ “xác chết” nữa, v́ đây chết tan nát, chết
tung tóe, chết vỡ bùng ... Chết trân tất cả
mọi cái chết.Không c̣n được “người
chết” trên đoạn đường kinh khiếp
đến tột độ của chốn quê hương
thê thảm.Giáp Hậu, Hải Lâm :Tên nhớ vào máu dù sau này
tôi chết, kư ức cũng không thể phôi phai ...Đă dùng
hết tất cả chữ nghĩa có trong đầu, nhưng
chưa đủ, chắc rằng chưa thể
đủ được, tôi điều tiết hết
cả thần kinh để đón nhận, ghi nhớ
nhưng nhận không vừa, ghi không nổi ... Ḷng bây
giờ cũng như dây đàn đă đứt, chỉ c̣n
thoáng âm ba cứng đỏ mơ hồ không ḱm giữa
nỗi chết.Đau choáng váng, ngất ngư dật
dờ bởi thứ men chết dậy lên hừng hực
như nắng sáng.
Pháo vẫn c̣n rơi ở phía trái con đường,
rơi từng ba quả một, từ vùng Tây Bắc đến,
người lính Công Binh vẫn từ từ cho xe ủi
“người,” tôi vẫn lặng lẽ hút những hơi
thuốc đắng.Nếu pháo nổ ở đây thêm hai
xác người nữa th́ có là bao !Không ǵ lạ nếu tôi
và người lính Công Binh này chết.Chẳng có nghĩa ǵ
khi thêm hai đầu lâu mới, bốn cánh tay, bốn bàn
chân và ít ruột gan rơi rớt đẫm máu văng trên
mặt nhựa này ...Đúng như thế v́ những
đầu kia, tay nọ chắc cũng đă qua một
lần rung động, cũng có qua một vết kỷ
niệm, một đời nồng nàn ước vọng,
sung sướng và hạnh phúc.Bây giờ c̣n ǵ nữa
đâu trong chiếc sọ đen nâu dính chút thịt nhăo nát
và lọn tóc khô rối rắm.Người đàn bà, sinh
vật đă một lần yêu quư, đă một lần
thiên đàng rực sáng của t́nh yêu, là hạnh phúc mầu
nhiệm của người mẹ ...C̣n ǵ đâu trong
chiếc sọ nồng thối lăn lóc nọ ?...Hết
nơi cho Người, hết thật.Lọt vào 9 cây
số này con người đă hoàn toàn tận diệt, sinh
vật người hoàn toàn tận diệt. Hết,
một chữ ngắn gọn để diễn tả
cơn tan vỡ cùng cực ... Chỉ c̣n được
mỗi chữ này.
Xe ra khỏi, không, phải nói rằng đó chỉ là
cảm giác tự đánh lừa ḿnh, v́ không ai có thể ra
khỏi được nỗi chết trùng vây kín.Đến
La Vang thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính ṭa,
nơi bạn tôi, Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ.Hai
cây số đường đất giữa ruộng lúa
xanh cỏ, tôi đi như người sống sót
độc nhất sau trận băo lửa đă đốt
cháy hết loài người.
Đường vắng, trời ủ giông, đất
dưới chân mềm mềm theo mỗi bước
đi, gió mát và không khí thênh thang.Ngồi xuống vệ
đường bỏ tay xuống ao nước kỳ
cọ từng ngón một - Tôi muốn tẩy một
phần sự chết bao quanh ? Có
cảm giác lạ :tôi vừa phạm tội, tôi
được sống.Phải, tôi có cảm giác như
chính ḿnh vừa giết người và dành quyền
được sống, chính bàn tay này vừa tham dự vào
tṛ tàn khốc ...Tôi nghĩ lộn xộn điều này
nối lấy điều kia, hổ thẹn, uất
ức, giận hờn, đau đớn và ... vô tri giác.Tôi muốn
“chửi” Tướng Giai.Dù có bị thôi thúc, ép buộc
từ một chiến lược nào đó ông ta cũng
không thể bỏ Quảng Trị trong bất thần
để đến nỗi 9 cây số đường kia
phủ thịt người.tôi cũng muốn chửi
Bắc Quân.Dù luật chiến đấu là phải
thắng, nhưng ai nỡ bóp c̣ để B40, B41, 75 ly
sơn pháo, từ trên những cao độ của Xuân Lâm, TrườngPhước,
Trường Thọ (những tên gọi sao cay đắng)
nổ vào những “mục tiêu” xao xác - D0oàn người
chạy loạn.Thắng trận ở đâu khi những
mục tiêu đau đớn đó ngă xuống ?Tội
nghiệp, những người lính của Đại
Đội 3 Quân Y c̣n tưởng đến giá trị của
chiếc cờ trắng chữ thập đỏ nên đă
trương lá cờ thụ động vô nghĩa
để băng qua sự chết.Bắc quân, h́nh như
anh đă không có t́nh người, cạn t́nh người.Anh
giải phóng cho ai khi đi giết con người ?Tôi
muốn hỏi điều đó, hỏi vang vang, hỏi bằng
tiếng thét đến vỡ cổ, bật máu, tôi
muốn hỏi tại sao Người giết Người
tỉnh táo và tàn tệ đến thế kia ? ... Từ
nơi đặt sứng đến “mục tiêu” không quá 1
cây số và gần nhất dưới 50 thước, anh
không nghe tiếng thét khi Người chết sao ? Tôi muốn
hỏi người lính miền Bắc với hết
cả thống hận trong ḷng.Căm thù nào trên người
đàn bà tóc rối bế con chạy xôn xao giữa gịng
người tan nát ?Tôi muốn hỏi, hỏi
ngàn lần, hỏi vạn lần người mang danh
hiệu là lính của Quân Đội Nhân Dân.Nhân Dân
để gọi những ai ?Tôi muốn hỏi một
triệu triệu lần bằng tiếng thét vô h́nh nổ
bùng trong đầu óc khi ngồi giữa cánh đồng
trống.
Muốn cào mặt, đấm ngực, cắt da để
máu chảy thành gịng, để nh́n thấy ḿnh cũng
“được” đau đớn, chia sẻ.Tôi bất măn
với chính tôi trong trạng thái ù lỳ vô tri khi
giương mắt nh́n rơ chiếc sọ người tóc
rối.Phải, tôi cũng muốn chửi cả chính tôi,
thật sự như thế ... Tôi cũng có tội, tôi
cũng có tội đấy, trời ơi!!
Đi ṿng ṿng ở sân của Vương Cung Thánh
Đường, nh́n tượng thiên thần, tượng
Đức Mẹ, cây dương liễu cháy xám ...
Những cảnh sắc và nơi chốn này đối
với tôi là kỷ niệm không phôi phai, nhưng bây giờ
sau khiqua 9 cây số chết, ḷng cứng, năo trơ, tôi đi
xiêu vẹo ngả nghiêng trong ḷng nắng và gió nồng ...
Ngửi và thấy toàn người chết.Trí óc không
nghĩ được cái ǵ hơn ... Đi qua ngôi nhà
xưa khi mùa đông 66, 67, tôi, Thừa, Hổ và anh Bảo
ngồi ghếch chân lên gốc cây thông uống bia
đá.Trời lạnh nhưng cũng phải uống
nước đá, chúng tôi vừa ở núi, nơi
đầu sông Thạch Hăn rút ra, 15 ngày trong đó ... Bây
giờ những bạn xưa đă chết, tôi th́ đang
bị vây khốn trong một trời thống khổ, làm
cái ǵ đây ?C̣n gác chuông của nhà ông Trùm họ đạo
: Tôi nhớ căn nhà này có một cô gái, Hổ đă trêu
ghẹo cô ta một câu trước khi rút quân đi, Hổ
chết đầu Xuân 68, cô gái bây giờ ở đâu ?Hay
cũng đă chết tan trong một vùng lửa
đạn.Bước qua gạch ngói của căn nhà
đổ nát, tôi đến gác chuông kéo sợi dây, hai
quả chuông quá nặng, phải kéo bằng cả hai tay ...
Kính ... coong ... Tiếng chuông âm u vang động ; vang vào
trong núi không nhỉ ?Nơi đây là một b́nh nguyên trùng
điệp và Trường sơn bao vây nơi xa ...
Vắng vẻ quá !Tôi nói thật lớn cho chính ḿnh
nghe.Chẳng biết nên làm ǵ ?Giật dây chuông thêm một
lần nữa ...
Về theo chuyến tản thương, người
thương binh nặng nhất chốc chốc ứa chút
máu hồng, bên cạnh, gă tù binh bị thương nằm mê
man ...
- Tụi này cứng cổ lm, bị thương nó
nằm ĺ để bắt ḿnh vác đi, đ ..m .. nó lại
được nằm băng ca trong khi tui phải ḅ
bằng cùi chỏ !! Anh lính bị thương hai chân ngồi
dựa thành xe chửa đổng ...
- Thôi, ḿnh khá hơn tụi nó là chỗ này, lỡ cứu nó,
cứu cho trót. Tôi t́m đường nói cho anh lính khuây
khỏa, quả t́nh cũng không tin được lời
nói của ḿnh.V́ khi đi ngang căn nhà ở cạnh
trụ sở xă Hải Lâm, nh́n cảnh người đàn
bà ngồi “tước” từng sợi thịt ra khỏi
xương người chồng.Người vợ
ngồi kẹp đầugiữa hai gối, tước
từng sợi thịt đă nâu đen nhăo nát trên
xương ống tay và chân ... Bà ta dùng bàn tay “xoa” lên trên
lớp xương sọ, vừa để đuổi
kiến vừa để tẩy phần da ươn
ướt ṃng dính vào khối xương mũi,
động tác b́nh thản thân ái như người vợ
trong khi âu yếm tay lên mặt chồng.Ôn ơi là Ôn ơi
!! Tiếng khóc nhức nhối than van gầm gừ trong
cổ họng như đánh nhịp khi người vợ
“nắm” đầu người chồng lên bằng hai ngón
tay thọc vào ổ mắt “rảy” cho hết kyến !Tôi
biết gă tù binh nghe nhưng cố lờ, gă ngủ trên
suốt đường di tản mặt bạnh ra khiêu
khích.Người lính của ta có thù hận một chút
cũng không sao.Có điều không công bằng giữa hai phe
lâm chiến, lính ta đánh giặc không thù hận, tôi
biết điều này v́ tôi cũng là một lính tác
chiến.
Trên xe ra phi trường nghe câu chuyện của hai vợ
chồng già quá giang ở băng sau, tôi chợt khám phá ra
mọt điều : Dân chúng vùng Thừa Thiên, Quảng
Trị đă sửa soạn đón chờ tàn khốc qua
tiếng nói.Họ không nói, nhưng than văn, kể lể, rên
xiết.Nỗi oan khiên vô h́nh chập chùng trên mỗi âm,
mỗi chữ, cách lên xuống của từng câu.Không nói quá
đáng, từ lâu, đă cảm thấy nhưng chưa
kyểm chứng cho đến hôm nay ba thàng mười
ngày, lại một số lượng thời gian bí
nhiệm mà người Trungcứ măi nhắc tới, tức
là 100 ngày của trận chiến cuối mùa, 3 mặt
trận : An Lộc, Kontum, trị Thiên đều cùng có
một mẫu số chung : Dân Trị Thiên là nạn nhân
đa số.V́ dân cạo mủ ở an Lộc,
người dinh điền ở Kontum cũng là những
di dân Quảng Trị.Thậm chí ở chiến trường
B́nh Giả, số lớn nạn nhân cũng không ai ngoài
những người dân vừa mới di cư từ Cam
Lộ, Khe Sanh vào ... Thôi đó là tai ương tiền
định, Trị Thiên c̣n là Câu Ô, xứ sở của
người Chàm mà người Trung gọi là Hời.Âm thanh
sao nghe qua thê thiết, oán hờn, rồi lại c̣n
giọng ḥ nữa ... Ai đă đứng ở bờ sông
Bồ (chảy qua An Lỗ)sông Thư Rơi (Mỹ Chánh),
sông Hương nghe giọng ḥ cất lên từ những
khoang đ̣ khi chiều vào tối mới hiểu
được v́ sao có những quê hương cứ măi tàn
tạ, oán hờn ... Định mệnh đă xếp
đặtthế.Ch́ c̣n lời này để an ủi
kiếp đắng cay.
Người Lính Việt Nam,
Một nhiệm mầu
Chiến trận vẫn tiếp diễn, tôi lại bị
kẹt trong một guồng máy tầm thường hèn
mọn, phải bị trói chân, buộc tay, hằng ngày
dẫn một Đại Đội Địa
Phương Quân đi chặt ô rô, cóc kèn, dừa
nước, phải liên lạc, nhận lệnh từ
những sĩ quan đặc ước cựu binh sĩ,
Hạ sĩ quan của quân đội thuộc địa,
những “cấp chỉ huy” sáng giá, những Tỉnh
Trưởng, Quận Trưởng mà chủ đích
của công việc là làm sao “vồ” được một
số tiền trước khi đổi đời, lộn
giống ... Trong tầm thường cay đắng này, tôi
cứng người v́ hổ thẹn cùng nỗi uất
ức điên cuồng lặng lẽ.Hết, phải giă
từ những chiến hữu hào kiệt, phải giă
từ những chiến trận mịt mùng lửa dậy,
phải giă từ ngày căng thẳng giữa hai cọc
sống - chết và đêm nóng đỏ của hơi bom
rát mặt...
Ngày ngày ngâm chân xuống bùn sâu của những kinh rạch chằng
chịt vùng Bến Lức, Long An, đêm dẫn bẩy
người lính nằm phục kích trên bờ ruộng, tôi
nh́n sao, nh́n trời, nh́n cơn gió và ánh nắng,
tưởng nhớ đến những nơi xa, nơi
chiến trận trùng trùng giăng kín những người
quen hay không quen ngă xuống trong mỗi giờ qua, mỗi
ngày tàn.Tiểu Đoàn 11 Dù ở quảng Trị vừa
chết thêm một Đại Đội Trưởng -
Nguyễn Phúc Long, Đại Đội Trưởng
chỉ huy, như thế có nghĩa là pháo đă tăng
cường độ, tăng rất cao, rất mạnh.Tiểu
Đoàn 3 Dù chết anh Thiếu Úy Thủ Khoa một khóa
Sĩ quan Trừ bị, cựu sinh viên luật từ Pháp
về, con một kư giả, cựu Thủ Hiến, một
Trưởng Hướng Đạo. Tiểu Đoàn 3 Dù
nằm dưới Mỹ Chánh, vậy là chiến trận
đă trở chiều.Rồi chiến trường Quảng
Ngăi tăng cường độ.Bạn tôi, Lê Văn
Nghĩa, Chi Đoàn Trưởng chiến xa lừng lẫy
1-4 mất tích ở mặt trận Quế Sơn, mất
tích hay chết?Đau biết mấy, tháng trước Nghĩa
vào Sài G̣n chạy đôn đáo để t́m tôi... T́m tao làm
ǵ hở Nghĩa, phải chăng mày biết điềm
đi khuất nên t́m kiếm để giă từ!Ôi, bạn thân thiết của một
đời mà bao nhiêu năm không gặp, lúc có thể
gặp lại th́ đời đă đóng cửa biệt
ly. Đau, cảm giác đau đớn ŕ
rầm soi ṃn cơ thể trong tháng ngày tiêu hao làm tôi gẫy
đổ từng vụn nhỏ. Ở vùng II,
Tiểu Đoàn Biệt Động Quân của Ngô Văn
Mai, Tiểu Đoàn giải phóng Bồng Sơn đang kêu
gọi tôi đến, hăm hở sửa soạn
chuyến đi dài với Biệt Động th́ chiếc
cùm cứng nặng đă gông vào quanh cổ, làm ǵ đây? Giữa đám mây, cơn mưa chợt đổ
ào xuống khi chân ngập dưới bùn lầy rạch
Rít, tôi ngẩng đầu nh́n hạt mưa mà gởi
đến chiến trường bạn hữu nơi xa
tiếng thét lặng căm chất chứa những cay
đắng lẫn ngậm ngùi. Rồi Thủy Quân
Lục Chiến sau 27 tháng Bẩy, thay thế Nhẩy Dù
để “dứt điểm” cổ thành Quảng
Trị.12 giờ 45, ngày 25 tháng 7 tôi ở đấy,
chứng kiến Tiểu Đoàn 5 Dù “mớn” bờ thành và
“dựng đại cái cờ,” lời Đại
Đội Trưởng Đại Đội 51/TĐ 5
Dù.Gần hai tháng qua đi, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân
Lục Chiến đổi 6 Dù, 3 TQLC đổi 5 Dù, 9 TQLC
đổi 11 Dù, Trâu Điên (2 TQLC), Quái Điểu (1 TQLC)
chận đường cửa Bắc ngang sông Thạch
Hăn, những Tiểu Đoàn Mũ Xanh quá quen thuộc, quá gần
gũi với những Nghiêm, Liễn, Tiền, Hợp,
những bạn thân, đấy là chưa kể Tùng, Để,
Phúc, Kim, Tống, những niên trưởng “đúng chỉ
số” đă phải chịu bao nhiêu gian nan để
bước chân vào nội thành, nơi ṭa nhà của Tiểu
Khu Quảng Trị ... Gian nguy, h́nh như danh từ này không đủ,
không làm sao đủ được v́ cổ thành là ǵ, nếu
không phải là cục đá vuông với bề dài mỗi
cạnh 590 thước, cao và dầy 5 thước -
Mục tiêu được đo bằng số chính xác
đó gồm trăm ngàn viên gạch ghép lại đă
thấm bao nhiêu lít máu ?Mua bằng bao nhiêu mạng
người ?Bao nhiêu đời sốngđă đánh
đổi lấy bức thành rộng năm trăm
thước vuông đó, bao nhiêu ?27 tháng 7 - 15 tháng 9 là 48 ngày,
và nếu kể từ 7 tháng 7, lúc Tiểu Đoàn 7 Dù
vượt qua ngă 3 Long Hưng vào cách chi khu Mai Lĩnh 300
thước th́ mặt trận thành phố Quảng Trị
thực sự đă kéo dài trong 68 ngày, 68 ngày với lực
lượng 4 tiểu đoàn Dù (5, 6, 7, 11) trong giai
đoạn đầu và 8 tiểu đoàn TQLC (giai
đoạn 2) cùng một liên đoàn BĐQ.Trong 68 ngày
đó, đặc biệt là 48 ngày của Thủy Quân
Lục Chiến, các tiểu đoàn của ta đă phải
chiến đấu liên tục trên một chiến
trường dài hai câynăm trăm thước từ ngă ba
đường Lê Văn Duyệt, đường vào TRí
Bưu đến Long Hưng, ngơ vào Quảng Trị, và ngang
một cây số hay 1000 thước - Những con số
phải viết chính xác để nói lên một chiến
trường hẹp cứng gai góc hết ư niệm
chiến trận - Chiến trường có diện tích Hai
ngàn năm trăm thước vuông đó đă
được 15 tiểu đoàn bộ chiến bao vây và quét
sạch từng thước đất, phải nói
từng tấc đất nếu muốn giữ
độ chính xác trong 68 ngày, 15 tiểu đoàn hay 7500
người phải đi qua 2500 thước vuông, vậy
mỗi người có bao nhiêu thước chiến trận
? - Con số trung b́nh cho thấy 3 người lính có 1 thước
vuông mục tiêu.Một thước vuông để tác
chiến trong 68 ngày !!Quân sử thế giới
trước và sau Quảng Trị, không c̣n một nơi
nào, không thể có một chiến trường nào chật
cứng đứt hơi bằng Quảng Trị, Việt
Nam ... Chắc chắn như thế.Trong 68 ngày đó, 6
tiểu đoàn pháo của hai sư đoàn Dù và Thủy Quân
Lục Chiến đă bắn bao nhiêu trái đạn, dàn
hải pháo của Hạm Đội số 7, phi cơ
Việt Nam đă đánh 7 phi tuần xuống góc đông
bắc cổ thành, mở đường cho Tiểu
Đoàn 5 Dù ; 7 phi tuần gồm 14 phi xuất, một phi
cơ trong một phi xuất đánh 12 trái bom từ 250 kư đến
500 kư ... Vậy trong 68 ngày, bao nhiêu bom đă rơi xuống
trên mỗi phần đất của thành phố chiều
dài không quá 15 phút Honda đó ?!!Quảng Trị !Muốn kêu
lên một tiếng nhỏ, muốn nhỏ một giọt
nước mắt - Thành phố quê hương là thánh
địa chịu nạn cho hết tai ương nhân
loại - Không c̣n một nơi chốn điêu linh nào
của địa cầu qua mặt nơi mang tên Quảng
Trị.Không có một nơi nào.
Để kết luận, ta t́m một sự so
sánh.Người Đức bao vây Stalingrad 76 ngày,
người Mỹ giữ Bataan trong 66 ngày, Corregidor 26 ngày,
quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng Chung tử
thủ Tobruk trong 241 ngày.Và gần gũi nhất,
Điện Biên Phủ thực sự bị bao vây là 56
ngày.Những cuộc bao vây và tử thủ lừng danh này
được thực hiện bởi súng Sten, Mat 36, Garant,
Carbin M1, loại vũ khí hàng đầu của Bộ Binh
Mỹ, Bộ Binh số 1 của thế giới
!!!Những trận đánh để đời của quân
sử thế giới đó có là ǵ so với Quảng
Trị khi một anh Hạ sĩ nhất 17 tuổi,
Trần Văn Rony của Tiểu Đoàn 6 Dù hạ gần
100 Cộng quân trong một ngày chiến trận ...
Dưới đất là cá nhân chiến đất khai
triển tối đa, trên trời 1 pass B52 đi qua (sau 27
tháng 7, phi cơ Mỹ và B52được lệnh đánh
Quảng Trị) với 3 chiếc, một chiếc chở
42 trái bom 250 kư, 24 trái bom 500 kư, cùng đánh xuống trên
diện tích không quá 500 thước bề dài ... C̣n ǵ
nữa không ?Quả thật không c̣n đủ chữ
nghĩa để nói hết “nồng độ” của
chiến trường.Từ ngă tư Quang Trung - Duy Tân,
nơi Tiểu Đoàn 6 Dù bàn giao lại.Tiểu Đoàn 6
TQLC đă mất hết 48 ngày để đánh đến
vào góc thành đông nam cổ thành Đinh Công Tráng - 48 ngày tác
chiến dằng dặc thường trực trên trục
tiến quân dài đúng 400 thước ; 400 thước
đầy chốt, chốt gồm một tổ 3, 6
hoặc 9 người, gồm đủ B40 và thượng
liên, chôn cứng dưới những công sự chịu
đựng được bom, chốt được bao
bởi một hàng rào cối “cơ hữu” từ những
chốt lớn đằng sau và đại pháo 130 từ
Đông Hà, Bến Hải, Khe Sanh bắn xuống - Qua
được một tấc đường, đến
gần một điểm chốt là ḅ trên nỗi chết
cụ thể như lớp đất đá ngổn ngang
mà bàn tay chạm phải khi lần ṃ t́m kiếm lối
đi ... 400 thước cho 48 ngày tác chiến không dứt
thở, c̣n điểm “thông hơi” nào của chiến
trận để chiến sĩ ta chịu đựng
khỏi đứt hơi.
Thế nhưng người lính đă sống c̣n và
chiến đấu được, chiến đấu hào
hùng hừng hực quyết tâm, 30 tháng 3 kể đến
giờ này là 6 tháng hay 280 ngày đỏ lửa, người
chiến sĩ ta có đêm nào ngủ được quá 4
giờ, bao lần b́nh yên cầm cái chén để từ
tốn và miếng cơm nóng, người lính ta đă
bắn bao nhiêu ngàn viên đạn, đă dựng mắt
thức trắng mấy ngàn giờ ... Cái thân thể
gầy g̣ nặng dưới 50 kư lô mang bốn ngày thức
ăn và gạo, một bộ áo quần, chiếc poncho,
vơng, 600 viên đạn XM16, 6 trái lựu đạn M26, 1
hỏa tiễn M72, nón sắt và khẩu súng - Tất cả
khoảng 40 kư - 40 kư đè nặng trên tấm lưng
gầy c̣m hằn dưới xương sống trong 6
tháng để đi qua vực thẳm của nỗi
chết trùng trùng, người lính c̣n là “nạn nhân” thụ
động đến độ thê thảm của tṛ
chơi chính trị được c̣ kè mặc cả ở
những căn pḥng kín cửa.Đưa bàn tay chỉ c̣n
một ngón, người sĩ quan của Trung Đoàn 57
Sư Đoàn 3 chỉ vào tượng Chúa ở ngực
đểnói “ “Tất cả những điều tôi nói là
sự thật - Đầu tháng Tư trấn giữ ở
phía bắc Đông Hà chính mắt tôi thấy 6 khẩu
đại bác của Bắc Quân khai hỏa ở Ngă Tư
Ṣng (Gio Linh) cách tôi không đầy 3 cây số, phi cơ
Mỹ được gọi tới và đánh cách mục
tiêu 12 cây số ... Khẩu đội đại bác Bắc
Quân để sát cạnh đường vào làng Kim Môn
dưới chân đèo Ba Dốc, những điểm
địa h́nh quá dễ nhận trên địa thế,
vậy không có một lư do nào bảo tôi nhầm lẫn chấm
sai mục tiêu cả 12 cây số !!Và rơ ràng nhấtlà ngày 25
tháng 7, ngày Tiểu Đoàn 5 Dù bám được bức
tường đá Cổ Thành Quảng Trị, chỉ có
mỗi phi cơ A37 của Không Quân Việt Nam yểm
trợ cho đến 12g45, khi Nguyễn Tấn Sĩ thúc
lính ḅlên thành, buổi chiều Không Quân Hoa Kỳ can
thiệp, dội bom nội thành - Kết quả v́ hai trái
bom đánh nhầm, Tiểu Đàn 5 mất đà, khựng
lại và dội ngược ... Sư Đoàn Dù trống
ngă bến Chùa, đường qua sông Thạch Hăn về
NHan Biểu, Ái Tử - Đường tiếp vận
của Bắc quân ... 9 tiểu đoàn Dù chỉ vừa
đủ rải dài từ Mỹ Chánh đến Quảng
Trị, từ đường chiến thuật 556B ra
đến quốc lộ một lữ đoàn để
chận con đường Ái Tử - Nhan Biều - Cổ
thành là ước vọng tha thiết của Bộ Tư
Lệnh Sư Đoàn Dù hay cũng chính của Tướng
Trưởng ... Ước vọng được căng
dài trong 2 tháng không thực hiện !! Thế nên dù Tiểu
Đoàn 5 Dù là tiểu đoàn hàng đầu của binh
chủng, dù Tiểu Đoàn 6 là tiểu đoàn đă làm phép
màu ở An Lộc, hai tiểu đoàn này có gồm những
người lính đúc bằng thép cũng không thể
dựng cờ Cổ Thành, không thể nào dựng
được trong những điều kiện thuận
lợi tái người như đă nói.Vậy bám
được bờ thành như buổi sáng ngày 25 tháng 7
đă là một chiến công kỳ diệu. Chỉ có
thể làm được với Tiểu Đoàn 5 Dù,
đơn vị đă khai sinh sau vi tướng
cho quân lực. Tướng Ngô Quang
Trưởng khỏi đầu vơ nghiệp cũng với
Tiểu Đoàn 5 Dù.
Người Lính Việt
Việt
Đêm Trên Bờ Thạch Hăn
Định mệnh, phải gọi sức mạnh bí
ẩn và linh thiêng đó thêm một lần..
Phải, chỉ định mệnh mới có thể
xếp đặt, dàn xếp tất cả tai ương,
hạnh phúc, địa ngục, thiên đàng cho con
người.Những sự kiện kinh hoàng nhất đă
xẩy đến, những thống khổ đọa
đầy nhất đă hiển hiện, tất cả tàn
khốc chất ngất chiến tranh đă ào xuống trên
Quảng trị, kéo dài qua Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa
hè trước th́ năm nay 1973, bắt đầu cho
những ngày hè mới trên thành phố tan nát nhỏ bé này -
Thành phố, chữ viết đến quá ngại ngùng ...
V́ đống gạch đá vĩ đại kia có phải
là một thành phố không ? - trên đoạn
đường số 1 mà chỉ 365 ngày trước đây,
hàng ngàn người đă nằm xuống với hiện
thực của một địa ngục trần thế
... 365 ngày đi qua, trên bụi cỏ c̣n vương dấu
mảnh áo quần cháy nám của người chết, trên
lớp cát xám lạnh theo cơn gió đôi khi thoang thoảng
mùi thịt da chưa tanbiến hết và hằng ngày,
hằng giờ trên Quảng Trị, “thành phố” không
tiếng nói, không nóc nhà, lũ chó hoang sục sạo tung
hoàng t́m kiếm mùi chủ cũ ... Trên dấu vết
mới tinh của mùa hè khốc liệt vừa qua,
những ngày hôm nay, mùa Hè 73 là sân khấu để diễn
ra một tấn kịch khác - kịch Ḥa B́nh - Bờ sông
Thạch Hăn, nơi trao đổi tù vĩ đại
của một nền ḥa b́nh lạnh buốt sống
lưng - Định mệnh, chỉ có sức mạnh siêu
h́nh này mới giải thích được
Máy bay đi qua An Lỗ, qua Phong Điền, qua Mỹ Chánh,
trời mù sương nên trực thăng bay sát mặt
đường ... Tôi lại thấy cầu Dài, cầu
Ngắn, thấy hỗn độn trên cát trắng cảnh
chết của toàn thể con người mà dấu vết
sau một năm dài vẫn c̣n hằng hằng trên màn
mắt ... Nhưng trước mặt, hai bên, trên chiếc
trực thăng bây giờ tôi đang bị vây quanh bởi
nón ông soa, nón cối, áo đại quân, áo tác chiến
vải kaki Nam định và thuốc lá Điện Biên bay
mùi khét ... Thượng Đế ơi, phải chăng
người muốn ném tôi vào một cơn đùa !!?Hằng
ngày đi bộ từ nơi của Nghiêm, (Tiểu Đoàn
Phó TĐ ! TQLC) căn nhà lầu có ḷ
gạch mà mùa Xuân Mậu Thân tôi đă đến ở và
chiến đấu ... Trí nhớ vận dụng tối đa
cũng không thể xác định được nơi
chốn đă một lần trú ngụ ... Và Quốc Lộ
1, đường Nguyễn Hoàng, đường Gia Long,
trạm xăng xưa tôi và Mễ mua xăng theo lối “ủng
hộ,” quán sách đối diện Cổ Thành, quán bún ḅ
ở bờ sông ... Tất cả chốn xưa mỗi ngày
mỗi giờ đi qua vẫn không thể t́m ra dấu tích
... Quảng Trị ơi, trái tim muốn vỡ tan
dưới tiếng than im lặng.Và tôi lại đến
ngồi ở bến sông, nơi tọa độ YD3 ...
Lịch sự, ḥa nhă, kiềm chế hết phẫn
nộ, đè xuống hết tức tưởi ... Thông báo
cùng quư vị, thể hiện tinh thần ḥa giải, thi
hành nghiêm chỉnh Nghị Định Thư ... Tôi phải
đối mặt với một kẻ thù vẫn c̣n
rất mới. Ngày này, tại đây, mùa hè
năm trước. Trước mặt, Quảng
Trị tan vỡ chập chùng qua lớp nước mắt
vô h́nh
Thương thân, thương bè bạn, thương
người, thương thành phố.Nỗi thương mến
mênh mông nhưng dày đặc, thương mến rộn
ră đau đớn, thương mến ngất bồn
chồn ... Mỗi lần ngồi xuống chiếc canô
chạy qua bờ bắc Thạch Hăn, thấy lá cờ vàng phất
phới trên điêu tàn - ḷng trùng xuống, độ
phiền muộn sâu như hố thẳm ... Đêm khuya,
sương mù mịt, trăng lạnh dọi xuống gịng
sông đang lách tách con nước về biểnxa, nh́n phióa
núi nơi bạn thân đang co ḿnh dưới hầm
để qua cơn pháo tập trung từ Gio Linh đổ
xuống ... Đêm qua dần dần, ngày đến,
trăng lặn vào nơi xa, màu vàng đục phiền
muộn như nỗi uất ức ... Ngày hết hẳn,
trời sáng, lính và dân tập họp đầy ở
bờ sông để đón “anh em ḿnh” về và chứng
kiến những phương thức biểu lộ
“đấu tranh cách mạng” hạ cấp, cố chấp
và bỉ ổi của lũ tù được trả
về bên kia - Nơi không có con người ... Đứng
trong đêm, nghĩ chuyện trong ngày để thấy bội
phục vô vàn ḷng cao cả và sức chịu đựng
siêu đẳng của Người Việt Miền Nam - Những
người lính vừa qua đêm dài dưới pháo nổ
và người dân c̣n hằn vết dấu kinh hoàng -
Quảng Trị, nơi họ chứng kiến lũ tù
Cộng Sản đi qua thoảng tiếng tru của lũ
chó hoang đi t́m chủ
Ḷng cố chấp và sự căm hờn, những
khuyết điểm mà người viết dù ở hoàn
cảnh nào cũng phải nên chối bỏ. Nhưng
trong hoàn cảnh đau đớn này, phải cho tôi
quyền phẫn nộ - Tính chất cần thiết
để bảo vệ con người trước
bạo lực. Cuốn sách đă h́nh thành trong cơn
đau đớn, lần in thứ hai này người
viết xin được gởi kèm theo
một t́nh ư mới - Xin được coi như một
vũ khí bảo vệ con người. Lời nói không
phải mang tính chất kệch cỡm của một
đại ngôn láo xược nhưng xin được
nghĩ là sự cầu khẩn phát
xuất từ một người Việt
Một năm qua, những người lính
được kể đến đă có nhiều biến
đổi. Rất nhiều người thay cấp
bậc và chức vụ, nhiều người tạm
biệt chiến trường và những người
đă ... chết.Bên cạnh đó, có những người
sống lại, những người trở về và hỏa
ngục Cộng Sản đă được xác nhận là
một thực thể.Đồng thời những
chuyến đi kế tiếp c̣n cho biết có rất
nhiều trận lớn đă không được ghi
nhận, như trận “Quận Triệu Phong” của
Tiểu Đoàn 1 TQLC, trận đánh mẫu chốt mở
đường cho chiến dịch tái chiếm Quảng
Trị - Quận đường Triệu Phong , chốt
chận đường tiếp vận của Bắc quân
từ phía bắc theo sông Thạch Hăn vào Quảng Trị.
Thế nên, phải xin lập lại một lần câu
tạ lỗi.Một cá nhân trong thời gian giữa các
chuyến đi không thể nào có khả năng ghi nhận
đủ toàn thể một cuộc chiến vĩ
đại.Cuộc chiến vượt hết cả cuộc
chiến lịch sử chiến tranh loài người.
Quảng Trị- Tháng 3-73