Phan Nhật
Mùa hè đỏ lửa
III
AN LỘC,
Miền Đông không b́nh yên
Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực
đông-nam phần cuối con đường 13 biến
thành địa danh vang dội toàn thế giới... Guernica,
Arden, Berlin của Thế Chiến lần Hai không c̣n ư
nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800 thước
và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào pḥng
thủ tiểu khu đo đúng 1000 thước. Trên
diện tích bé nhỏ nầy, lại nhỏ hơn nữa
của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co”
lại với khoảng 900 thước bề dài c̣n
lại-Một ô vuông cây số hứng chịu gần 60
ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn
tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100
ngày vây khốn. Thế nhưng, An Lộc
đă chịu đựng được. Quân và Dân ở An Lộc đă chịu đựng
được. Chịu đựng- Sức mạnh tự
nhiên không bờ, không đáy- Với nó, trong đó,
Người Việt ngụp lặn miệt mài để
tồn tại.
Sống! Thượng Đế ban món quà hiếm
hoi quư giá này cho dân tộc ta quá khó khăn, hẹp
lượng. Chỉ được
sống, đám dân và lính ở An Lộc đă phải
căng ḿnh hứng chịu dài cơn băo săm sắp
tiếng nổ và mảnh thép, trong ba tháng. Họ lên
đến những “đỉnh” đau đớn chóng
mặt, như từ một độ cao hai trăm
thước, người mẹ sẩy tay
đánh rơi đứa con khi trực thăng chao mạnh.
Cái chấm nhỏ bé tội nghiệp rơi dần dần
vào một cơi xa xăm mất hút...Không nghe được
tiếng động của thân thể trẻ thơ
đập mạnh trên đất đá. Không có tiếng thét
bi ai của người mẹ mất con... Chỉ
âm động phần phật cánh quạt phi cơ và gió bạt
trên không gian im lặng. Từ đỉnh cao hai
trăm thước đến vực sâu hai thước giữa
ḷng đất đỏ lạnh tanh, người cha b́nh
thản ngồi xếp ngay ngắn, thẳng hàng h́nh hài
năm đứa con và người vợ, sau khi đă
đặt tay chân đúng vào thân thể của mỗi
đứa.
Nỗi đau đớn dài như con đường 13
từ An Lộc về Chơn Thành. Lai Khê, B́nh Dương, An Lộc, Lộc Ninh... Tên đặt ra nghe
sao quá thê thảm, tội nghiệp, làm ǵ có “b́nh an” nơi
miền Đông tàn khốc này... Tất cả
chỉ là ước vọng. Nói thật
hơn, chỉ là những hư vọng khó có lần
hiện thực- Ảo giác mù mờ khi con người đă
đến đáy khốn cùng. Chạm tay
sự chết.
Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A
được đánh vần là “Alpha” hay “Anh Dũng”.An
Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên
tôi gọi “An Lộc là Anh Dũng”; tĩnh từ này đă
được dùng quá nhiều, đến độ nhàm
chán, nhưng ngoài nó ra không c̣n một danh từ nào xác
thực và đúùng đắn hơn. Phải, An Lộc là
Anh Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống
ở An Lộc- Chết ở An Lộc - Tất cả
đều trùng trùng tràn ngập, vây kín, kích động
bởi tính chất anh hùng. Tôi không nói quá lời, với chân
thật của người cầm bút và tấm ḷng
giản dị của người lính, xin xác nhận
lại một điều: An Lộc - Anh Dũng. Yếu
tính của thành phố, người và sự kiện
nơi An Lộc là tỉnh từ giản dị đầy
đủ kia.
Mười năm kinh qua trận địa, bao nhiêu trang
sách về binh sử đă được đọc,
tất cả đều bị An Lộc vượt xa,
vượt một tầm quá lớn mà không một trận
chiến nào có thể bén gót được. Kiến
thức quân sự, ư niệm chiến tranh, tất cả
bị đổ nhào vô nghĩa, vô dụng với An
Lộc. Chắc chắn như thế, nếu ai hằng
đến sống, chết cùng với nơi chốn
ấy một lần. Những “huyền
thoại” về An Lộc đă được khai thác, nhưng
không hết. Những người
kiệt liệt của An Lộc đă được
nhiều nhắc nhở nhưng chưa đủ. Tôi
nối tiếp công việc này v́ An Lộc không những
chỉ có Tướng Hưng với các Trung Đoàn 8, 9, 48,
52 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Huấn
với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù; Liên Đoàn 3 BĐQ, và
Đại Tá Nhật với thành phần cơ hữu
Tiểu Khu B́nh Long. Ngoài những lực lượng này, c̣n
có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù, đơn vị tham chiến
từ ngày 7-4, bắt tay An Lộc lần một vào ngày 16-4
và lần thứ hai sau trận đánh trên tất cả các
trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai cây số c̣n
lại vào đến Thanh B́nh (hay đồn điền Xa
Cam) trong “bốn mươi lăm phút chiến trận”.An
Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc
17g45 ngày 8 tháng 6 năm 1972.
Quê hương của loài nai,
Đường 13 chạy từ ngă ba Chơn Thành
đến An Lộc đo được 30 cây số,
tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số
nữa là Lộc Ninh, bên kia biên giới là Snoul, qua Snoul con
đường ngă theo hướng Tây-Bắc để
tới Kratié, nằm cạnh bờ Cửu Long; nép bên
bờ trái con sông, đường chạy tiếp về
phía bắc để gặp StungsTeng, vị trí chiến
thuật quan trọng của đường giây ông Hồ
từ Bắc vào. Đoạn này có thêm một
tên khác, “đường Sihanouk” cho có vẻ đại
đồng nhưng thật ra cũng chỉ là của anh
Hồ cộng sản. Khởi đầu cuộc
chiến “Đông Dương lần thứ Hai”, những
công thầnđầu tiên của Trung ương Cục
Miền
An Lộc không phải là thị trấn, thành phố,
thật ra chỉ là thị xă tỉnh B́nh Long, đồng
thời cũng là quận lỵ Quận An Lộc, tức
Quận Châu Thành của tỉnh. Tỉnh
gồm ba quận, Lộc Ninh cực bắc, An Lộc
giữa và Chơn Thành phía nam. Tất cả cơ
sở hành chánh đều nằm trên con đường 13,
con đường lớn phẳng phiu chạy thẳng theo hướng Bắc-Nam, vạch một
đường đen thẫm giữa rừng cao su xanh lá,
nổi bật trên màu đất đỏ nâu mịn màng
đẹp đẽ. Đỏ nâu cũng là màu máu khô,
đường 13, con số của sự xấu -
Định mệnh đă định rơ: Con lộ mang
số tử thần và màu máu thẫm - Hai cuộc chiến
tranh chứng tỏ có một Thượng Đế
nhẫn tâm khắc nghiệt đă sắp đặt sẵn
điêu linh cho nơi chốn, lẫn người. An
Lộc, tên nghe thuần hậu hiền lành, như cảnh
tượng đàn nai chạy tung
tăng trên đồng cỏ tranh mượt sóng. Đàn
nai sống no đủ b́nh yên, được che chở
bởi tàng cao su, rừng bạt ngàn xanh im bóng nắng và hàng
vạn con suối mang đủ các địa danh Việt,
Miên, Thượng... Những gịng suối đầu tiên
của sông Bé ở phía đông và sông Sài
G̣n ở phía tây. B́nh Long- Quê hương loài nai nằm
giữa hai con sông trải dài trên một b́nh nguyên bao
la,miền Đồng Nai thượng không những chỉ
là một vị thế tốt, c̣n là chiếc nôi nuôi
dưỡng quốc gia với tài nguyên thiên nhiên phong phú, quư
hiếm. Đất rộng mênh mông trải dài
chập chùng đồi thấp đến tận Biên Ḥa,
Gia Định. Đất giàu đẹp, uy nghi như hănh
diện bất tận quê hương. Nhưng,
đúng là quê hương khốn nạn. Quê
hương gắng chịu tai
ương của nhân loại. Quê hương
nguy khốn, ngặt nghèo. Quê hương
lửa dậy và B́nh Long hừng hực tro bay. Nơi sự sống không c̣n mặt đất.
Địa ngục trước mặt,
Khi đứng trước An Lộc, dẫu kiễng chân,
mở to mắt, tôi cũng chỉ thấy được
một ṭa lầu cao, ngói đỏ, con đường
hơi ép trái trước khi vào thành phố, chiếc
tăng T54 nằm bên vệ đường, che khuất
một phần không gian. An Lộc cách một khoảng 1700
thước, nhưng sao đă thấy từng cơn rung
trong ḷng, đă thấy thái dương giật
giật.Đâu phải chiến tranh chỉ có ở trong
đó, nơi tôi đứng, năm mươi sáu xác
chết của C7, C8 (đại đội 7, 8) của
Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 275, Công Trường 7 đang
nằm chật trong các công sự pḥng thủ; nơi đây
cũng có hai T54, ba PKR 79 nằm chúi đầu xuống
hố bom, bộ máy bị tan nát v́ lựu đạn công
phá. Nơi tôi đứng, chỉ mười lăm phút
trước, Đại Đội 62 Tiểu Đoàn 6
Nhẩy Dù đă xung phong cú chót bắt tay với Đại
Đội 81 Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù. Lần bắt tay vinh quang của quân sử người
Việt phương
- Tôi vào trong đó nghe anh Nămmm? Tôi hỏi
trung tá Đỉnh, tiểu đoàn trưởng 6 Dù.
- Khoan, mai sớm hẵn hay, 圁ợi đi, từ
thằng 8 (tiểu đoàn 8) vào trong kia
đâu có yên, nó pháo chết cha mày. Chết
lại không có được “tuyên dương công
trạng” nữa,
- Ừ vậy thôi, ngày mai.
Đêm xuống thật nhanh trong rừng,
rừng cũng chỉ là chữ để gọi tên
một vùng cây, v́ ở đây rừng chỉ c̣n những
thân cây cháy đen tua tủa dựng lên trời với cành
khô không lá. Cây ngổn ngang và rừng
điêu tàn. Bom đánh xuống cháy
một xóm nhà vốn là sự thường trong chiến
tranh, nhưng đốt cháy hẳn một cánh rừng bao
la th́ chỉ có ở Việt
-Ông bắt tay được vvvới tiểu đoàn 8 là tay
cừ,tụi này đợi cả hai tháng, chả có ai nắm
được tay ḿnh, mỏi bỏ mẹ...
- H́... h́, Đỉnh cưi thích chí. Hiếu khóa 14,
Đỉnh 15 Đà-Lạt, cùng là dân năm 54 “mang rau
muống vào Nam diệt thù”, nay gặp được nhau
giữa rừng chiến trận, câu chuyện vang vang
những lời thống khoái... Có Nam Xương (Danh hiệu
truyền tin trước kia của tôi,
- Đâu đâu, cho tôi nói chuyn với nó một chút, lâu
không được nói chuyện với dân civil
!!Chắc giọng nó “thơm” lắm.
Tôi cười ngượng ngùng, có một
chút xấu hổ làm cứng mặt, đàn anh của tôi
đă nói thật. Nhu cầu
được gặp và nói chuyện với người
lạ là một phản ứng thông thường của
người lính miệt mài torng rừng rậm. Bao
nhiêu lần tôi cũng đă có cảm giác này.Chui rúc măi trong
rừng sâu, đóng quân ở nơi hoang dă, khi thấy
được một con đường, dù chỉ là
loại đường đất trải đá dẫn
đến một làng xóm cũng gây nên cảm giác ấm áp
trong ḷng - Cảm giác sống giữa nơi có người,
không lẻ loi ... Gặp mặt người, ước
muốn sao nghe quá cay đắng, nhưng chính là một
hạnh phúc tội nghiệp mà chỉ có người lính
trong chiến tranh mới cảm thấy.
Tám trăm thước từ tiểu đoàn 6 đến
khu vực tiểu đoàn 5 tôi đi hơn nửa
giờ...”Mày đi qua đó th́ coi chừng, có hai
hướng pháo, một ở tây-bắc, một ở
đông-nam. Nếu ở hướng đông-nam lại th́
không sợ, chỉ sợ hướng tây-bắc, khi nào nghe
pháo tới th́ đứng xây lưng vào cây cao su hoặc
nhẩy xuống hố”.Đỉnh dặn ḍ tôi
trước khi vào vùng pháo.
- Anh coi thường tôi quá, c艑ng đă là Đại
Đội Trưởng Đại Đội 93 Tiểu
Đoàn 9 từ 1965 chứ đâu phải là dân cù lần
chưa đánh giặc,
- Tại v́ mày đeo cái máy nh, tao cứ tưởng
mày làm báo thứ thiệt!!
- Báo quái ǵ, giang hồ chơi vvvậy thôi, tôi dọt, về
viết bài bốc anh. Rừng không nắng, đất
đỏ tung tóe, cây gẫy đổ
chắn lối đi, xác Bắc quân chôn tập thể ngổn
ngang g̣ đống, pháo rời rạc rơi, cứ năm
phút từng cặp một... Tôi cũng nhiều phen t́m
hố để ẩn nhưng người làm sao nhanh
hơn đạn, khi đứng được trong
hố th́ đạn đă chạm nổ rồi!! Mới
hơn một năm đă quên bố hết phản
ứng... Chẳng bù năm xưa khi trái đạn đầu
tiên vừa nổ ở vùng phi quân sự, tôi đă ở
nguyên con trong hố đào bằng nón sắt! Ḿnh hết
thời lính rồi.Tôi lẩm bẩm nhắm hướng
tiểu đoàn 5 đi mặc kệ pháo rơi trên mặt
lộ... Nếu nhỡ ḿnh chết ở đây th́ với
tư cách ǵ nhỉ?Dân cũng không, lính
chẳng phải.Không có một điều ǵ kéo tôi
đến đây, không lẽ để lấy tài liệu
làm “tác phẩm”?!!
Mồm ngậm điếu thuốc, tay
bỏ túi quần, tay giữ máy ảnh, tôi cũng lạ
với ḿnh trong phút giây “đạt đạo” này.
Đời là sự vô thường !! Tôi
luận lung tung trong đầu khi
bước chân đi qua vùng rừng được lính
Nhẩy Dù đặt danh hiệu “băi pháo”. Pháo là pháo kích,
đại pháo của Cộng. Hơn ngàn người dân An
Lộc đă chết trên tám trăm thước ngắn này
trong những ngày trước khi họ cố bỏ nơi
đỏ lửa để xuôi nam... Gạo xấy, tay
nải, nón, guốc c̣n lác đác đầy khoảng rừng.Chụp
h́nh được hết những mảnh vụn này không ? Tôi tự hỏi khi loay
hoay điều chỉnh ống kính. Chẳng
thấy được ǵ, thôi vậy.Tôi xếp máy đi
hết quăng đường.
Đến khu đóng quân của tiểu
đoàn 5, chẳng có người lính nào trên mặt
đất, pháo đang nổ ngoài đường.
Dứt pháo, những cái nón sắt từ từ nhô lên
khỏi nắp hầm, hầm dưới đất,
nắp hầm khum khum như những nấm mồ
nhỏ... Cảnh tượng giống như
đàn c̣ng gió khi thấy người đi đến
vội tụt xuống cát trên băi biển. Những người lính vừa nhô lên thấy tôi nhoẻn
miệng cười.
- Báo hả? Có thuốc lá không ?
- Chẳng phải báo beo ǵ c! Thuốc lá
c̣n mỗi điếu ở mồm đây, hút không?
- Hút ! Ngư;;ời lính tḥ tay
lấy điếu thuốc không chậm một giây.
Đến hầm ông Hiếu, phải một phút kêu
gọi, ông Tiểu Đoàn Trưởng thâm niên nhất của
Nhẩy Dù mới “ḅ” ra khỏi ổ... À Toa, đợi
đấy, moa đăi toa hộp bia và bánh
do bà vợ vừa gởi lên. Tôi cởi áo giáp, máy ảnh,
nhận hộp bia vàng sánh.Như
những người lính im lặng chung quanh, tôi b́nh
thản uống từng hớp bia hạnh phúc. Đến một
độ nào đó con người “băo ḥa” với đau
đớn, trở thành trơ, mất xúc cảm và vô vi
như một kẻ đạt đạo cao siêu. Tôi
chỉ mới qua vài ngày chiến trận, chỉ mới
ở vài ngày dưới vùng “hỏa tập tiên liệu”
của địch, đầu cũng đă cứng và ḷng
phẳng trắng vô tri.Uống, bia lúc nào cũng ngon và
ngọt, thở một hơi thuốc thơm lên ṿm trời
âm u.Ầm !Ầm !Lại hai hỏa tiễn, tôi thụt
đầu vào lại hầm, hộp bia sóng sánh trào ra chút
bọt nhỏ.Uống thật say đắm, cạn
giọt cuối cùng, biết đâu lát nữa khi vào An
Lộc lại bế ngay một quả.
- Lâu quá moa không thấy mặt trời, cao su ở đây
c̣n lá, ngày lại nhiều pháo kích, ở luôn trong hầm cho
tiện.Ra khỏi hầm chẳng làm được ǵ,
nhỡ có chuyện ǵ lại thiệt cho đơn
vị.Người tiểu đoàn trưởng số 1
đă nói thế, trận chiến này quả thật không
c̣n chỗ để khai sinh anh hùng. Đánh nhau bằng
lưỡi gươm, người làm tướng
thuở xưa có cơ hội chứng tỏ
được mưu lược, can đảm và tài
nghệ riêng ḿnh.Đánhbằng gươm, lối đánh
mă thượng, quân tử, đánh đối mặt, và
chết không ân hận. Chiến
tranh hôm nay với đại pháo xa hàng chục cây số và
viên đạn vô t́nh nổ chụp. Người
thụ động toàn thể dưới vũ khí tàn ác vô
nhân. Chiến tranh không những chỉ
hủy diệt đời sống. Chiến
tranh c̣n làm mất giá trị con người.
Măn thiên hoa vũ,
Vượt hẳn hết ư niệm từ trước, bỏ
xa trí tưởng tượng đă xếp đặt, An
Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm,
An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn...Không c̣n
sự sống trên mặt đất, không c̣n dấu
vết người trên mặt đất, thành phố ch́m
dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng
tốt như một ổ mối khổng lồ
dưới lớp đất bùn bề mặt. Ṿng đai
thành phố bây giờ đă nới rộng lên phía Bắc
đến gần được sân bay.Những ngày
“tử thủ” đường pḥng thủ này rút xuống
ngang hoành độ 88, từ đây kéo thẳng đến
cực nam băi trực thăng B45 đo được 800
thước và bề ngang được 500.Một
diện tích rộng chưa tới cây số vuông đă có
lần nhận được 8000 viên đạn như trong
đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên
phá chưa kể hỏa tiễn và cối tung hoành trên
mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa
Kao.Mỗi thước vuông đất phải nhận
hơn 10 trái đạn.Đạn Delay xuyên xuống
đất hơn một thước mới nổ.Không
cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên
cạnh cũng đủ xô ngă vách hầm. Dân
và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục
đổ từ trên trời xuống trong hơn hai tháng.
Pháo không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt,
pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như
gió, pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng
đường như Mậu Thân, pháo
không đi từng luồn như ở Hạ Lào. Pháo và
trời chan ḥa trộn lẫn như mưa bay giăng
giăng che kín không gian của những ngày xuân mưa
bụi. Dưới bầu trời
đầy những đóa hoa tử thần đó. An
Lộc co quắp, vật vă, tan thành mảnh, phất
phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời lộng gió. Một
hỏa tiễn nâng chiếc xe jeep bay bổng, khối
sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm
mặt đất lại bị thổi ngược lên
cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc
nhỏ bị quay cuồng v́ những viên đạn tinh
quái chính xác trong phim cao bồi Mỹ.
Pháo đầy trời nên sự chết cũng ở
khắp nơi, chết lan như cỏ gà, chết tự nhiên,
như sống th́ phải chết. Chết
ở An Lộc là hiện tượng tất nhiên. Gia đ́nh bẩy người, hai vợ chồng
năm người con cùng trú trong một cái hầm. Hầm đào dưới nền nhà trên lót vài
tấm ván và một lớp bao cát. Tất cả đo
được một thước bề dày. Tội nghiệp, dân đâu biết
được cường độ công phá của
đạn 130 ly. Nên, ầm một tiếng ngắn
ngủi, cái nắp hầm tội nghiệp đó tung lên vỡ tan từng mảnh nhỏ
như những hạt nước tóe lên khi ḥn đá
nặng rơi xuống... Chết! Sáu xác chết
được một người c̣n sống chắp
nhặt, vá víu để xác người mẹ không có tay người con, để thằng anh
không lẫn chân thằng em. Người cha chậm
răi, từ tốn b́nh thản đi chọn lựa từng
phần thân thể một của mỗi người thân
yêu, c̣n ǵ trong đầu óc khô cứng đó. Không c̣n ǵ, chẳng nên gọi đó là óc năo con
người.Người đă chết. Con
người thật đă chết toàn phần ở An
Lộc.
Chân dung người giải phóng,
Trên đây là những h́nh ảnh củanhững “nội” An
Lộc, chung quanh An Lộc từ những ấp cực tây
như Phú B́nh qua cực đông Phú Ḥa, xuống phía nam
như Thanh B́nh, Văn Hiến ... Những tên ấp nghe
thật hiền, hiền lành tội nghiệp như
ước vọng nhỏ nhoi của người dân khổ
... Dân cạo mủ, dân làm nhà máy mà hơi nhựa cao su
đă thấm đẫm qua lớp da, bao quanh thớ
thịt tại nên một sắc thịt nâu nâu, nhạt
nhạt có cảm giác rút cứng nhăo nhoẹt khi chạm
phải ... Nhưng những người dân tồi tàn này
đă bị kéo ra khỏi thôn xóm cuối đời -
Họ là di dân từ Trung và Bắc vào - chống nạng
bế con, cơng cha mẹ đi dọc đường 13
hướng về Tân Khai, Tần Ô, Lai Khê để
đến B́nh Dương, thiên đường yên ổn
khốn mạt đang chờ đón, che chở ... V́
chỉ các B́nh Dương trên mười cây số là Lái
Thiêu, nơi có lũ người được mệnh
danh là “giới trẻ” đang đu đưa trên những
chiếc vơng ni lông, vơng cói, đút cho nhau những miếng
sầu riêng, chôm chôm bằng động tác của phim roméo
và Julliette, bằng thứ nũng nịu hờn dỗi
dưới những tàng cây xanh im bóng nắng. Cũng
dưới những tàng cây như thế này ở B́nh
Dương cách đó không đầy mười phút Honda,
những người dân An Lộc ngồi chồm hỗm
nh́n ra con đường ngập nắng, hướng
về mạn Bắc, nơi quê hương cuối
đời đang đỏ lửaTay vẫn nắm
chặt một mẫu vải vụn mà suốt bốn ngày
không rời bỏ ... Mẫu vải mang hơi hám kích
thước, biểu tượng cho đời sống,
niềm hy vọng ở quê nhà.
Người dân rời xóm làng để lại nơi
chốn cho những người ”giải
phóng.”Họ đi từ Bắc vào, từ Thanh Hóa, Nghệ
An xuống Đồng Hới, băng qua biên giới
dọc theo Tchépone, Mường Nông xuôi dần xuống phía
Nam, rẽ vào Kontum hay mặt trận B3 hoặc tiếp
tục xuống vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt
trước khi qua lại biên giới để vào Lộc
Ninh, cách An Lộc 18 cây số - Hành lang di chuyển mở
rộng không chướng ngại.Họ đến An
Lộc từ đầu tháng Tư sau sáu tháng di chuyển
và bắt đầu “được” xích vào cần chân ga
thiết giáp, xích vào cây để bắn máy bay và xích vào cổ
người bên cạnh để đi hết lời
nguyền “Sinh Bắc Tử Nam.”Ôi, nhưng đó chỉ là
bề ngoài, một bề ngoài giả dối tội
nghiệpđể che chở phần tinh thần
đổ nát, tan vỡ trong kinh hoàng, khiếp
đảm.Làm sao không sợ được, v́ trong đêm
11 rạng 12 tháng 5, sau khi được 8000 quả
đạn dọn sạch đường, 3 trung đoàn,
mỗi trung đoàn quân số 3 Tiểu đoàn đầy
đủ được“tùng thiết” với một
đại đội chiến xa thuộc các trung đoàn
203 và 303 thiết giáp, tưởng sẽ san bằng An
Lộc, giết toàn thể lính Mỹ Ngụy, không
để sống một người dân.Mười
bẩy “pass” B52, mỗi “pass” đi qua do 3 phi cơ thực
hiện với 42 quả bom 500 kư, 24 quả bom 250 kư. 17 pass
bom sát nách An Lộc 600 thước, chiếc hầm béton của
Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn I Dù “di chuyển” theo cơn rung của bom. Bom chiến
lược, với nguyên tắc chỉ thả cách quân
bạn khi có khoảng cách an toàn từ
hai cây số trở lên. Cuộc đánh bom phải do chính
Trung Tướng James Hollingswoorth của Vùng III điều
khiển. Và chỉ một “pass” bom ở Trăng Bàng cũng
đủ làm cho thành phố Sài G̣n chuyển động,
cách nơi đánh bom 30 cây số đường chim bay!Con người nào chịu nổi 17 pass bom
đi trên đầu, bao chung quanh không phải từng
lớp nhưng từng chồng, từng tảng âm thanh mà
cường độ nằm ngoài sức tưởng
tượng... Sợ, phải sợ, dù người có
được đúc bằng thép, thép cũng chảy,
người có uống thuốc liều, thuốc cũng
phải tan, Marx, Lénine, Hồ Chủ Tịch, Vơ Đại
tướng chẳng c̣n là cái quái ǵ trong khối không gian
điên đảo tàn khốc đó - Sợ, nên dù có bưng
bít, che dấu trong lá thư gởi về gia đ́nh ở
Nghệ An, Nguyễn Đ́nh Nghiêm, ám danh quân số và
đơn vị là HT 810042 SZ 7, sau một thời khuyên nhủ
gia đ́nh “công tác tốt để đạt
được tiêu chuẩn... Em Ba hăy gắng học
tập để tiến bộ đúng sự hướng
dẫn của Đảng...” Cuối thư
không thể cầm ḷng được, Nghiêm viết
thẳng: “Điều kiện chiến trường
rất gian khổ, vô cùng khó khăn, thư có khi 2, 3 năm
không viết được, nên gia đ́nh cha mẹ chớ
trông thư con”.Viết thế nào được
dưới 17 pass B52 đó? Viết thế nào
được dưới AC 130 Spector bằng Ra-đaba
quả 105 ly một?! Không viết thư
được là chuyện bắt buộc. Không
thể sống được là điều tất nhiên.
Làm sao có thể sống được hở
người Cộng Sản? Làm sao
để sống và chiến thắng hở ông Vơ Nguyên Giáp
- “Thiên tài ngu muội” của l&&ịch sử dân tộc.
Lỗi lầm này mấy biển rửa cho
tan. Oán hờn chồng chồng cao
ngất.
Ở đây, mặt trận với tàn khốc ngập
trời, hậu phương lớn ngoài Bắc th́
được “bồi dưỡng” với hạnh phúc,“Tết này em sẽ mua về cho mạ 1, 5
cân đường, hợp tác xă ủy nhiệm cho gia đ́nh
người đi nghĩa vụ quân sự số
lượng đường với tiêu chuẩn
đó.Mạ có nói đem bột, trứng qua bên này, nhưng
như vậy th́ tốn quá... Em sẽ làm 50 cái bánh và một
gói chè và mạ đă nhất trí ...” Trời đất
hỡi, c̣n tội nghiệp nào nữa hả trời, ba
năm đi làm giải phóng được “hỗn hợp
vui vẻ” bằng phần thưởng 1, 5 cân đường!!Anh “giải phóng” cho ai và để làm ǵ hở anh
Nguyễn Văn Hưu (số quân, đơn vị
271003TB004)?! Anh giải phóng đồng bào miền
Trước An Lộc, không có một
luận lư nào có thể tồn tại được,
chỉ c̣n tiếng thở dài bi thiết để nén
khối đau ra lồng ngực và chớp mi mắt
mọng cay tưởng rơi giọt nước vô h́nh. Nhưng, khóc cũng không nổi.
Chiến trường lộ mặt,
An Lộc tàn khốc, nhưng đối với quân dân
Miền
Và chiến trường này cũng có
đủ mặt trái của nó. Đó là một
chiến trường phi nhân, vô lư và tuyệt vọng.
Chiến trường hư không. Chiến trường chết, mồ chôn ảo
vọng và bạo ngược. Người
cộng sản hứng hết mặt trái khốc liệt
này.
Bỏ đi những sự kiện chiến thuật
như Bắc quân đă có đủ ưu thế chiến trường,
gần hậu cần, hành lang chuyển quân rộng răi,
dễ di chuyển, ngụy trang tốt, tiếp vận,
tiếp liệu đầy đủ và nhất là
được yểm trợ bởi một hỏa
lực khủng khiếp, một hỏa lực
vượt hẳn mọi hỏa lực bộ binh dă
sử dụng của quân sử thế giới. So với
Mậu Thân, Hạ Lào, chiến trường Trị-Thiên,
Kontum... An Lộc vượt quá xa về hỏa
lực. Không có một trận địa pháo nào
dồn dập và nặng nề như trên chiến
trường nhỏ bé An Lộc. Sẽ không bao giờ có
nữa, chắc chắn như thế. Nhưng dù đă có
được hết ưu thế chiến thuật, ba
công trường 5, 7, 9, được tăng cường
hai trung đoàn chiến xa 202 và 203, cộng quân vẫn không
“dứt điểm” An Lộc. Mặc dù cho đến hôm nay
khi viết những chữ này (20-6-72), địch vẫn
c̣n hoạt động mạnh tại Tầu Ô, Đức
Vinh và An Lộc c̣n nằm trong vùng hỏa tập tiên
liệu của hai hướng pháo Tây-Bắc, Đông-Nam. Nhưng mục tiêu chiến thuật (nhấn
mạnh nghĩa chiến thuật) của chiến dịch
đă bị găy đổ. Hoàn toàn
gẫy đổ.
Nhưng, mặt trái chiến trường
cũng không phải ở lần thất bại quân sự
này. Mặt trái chính là lần tan vỡ “huyền
thoại không tưởng” về bộ binh Bắc
Việt. Bởi nơi đây đă minh
chứng, không hề trên mặt trận lại có một
loại lính năng lực tác chiến xuống thấp
đến thế. Khả năng tác chiến kém có
thể do v́ thiếu huấn luyện, thực tập,
chưa đủ kinh nghiệm trận địa... Nhưng
ở đây, yếu tố chính để kết nên căn
bản cho toàn bộ yếu kém này là tinh thần Bắc
quân: Khối hư không thất vọng và chán nản cao
độ. Ở mặt trận Trị-Thiên, binh sĩ
Bắc Việt khi vượt sông Bến Hải tràn
xuống Đông Hà, Quảng Trị dù sao vẫn c̣n mang
được tâm lư Đánh trên quê hương, nơi
đất nhà, vùng thổ ngơi c̣n dính líu với Miền
Bắc. Họ lại được thúc đẩy thêm “ư
niệm đi giải phóng, chiếm đóng” cộng sự
hận thù đối với dân chúng Miền Nam, nhất là
dân cư ở các thị trấn, thành phố. Tâm lư này c̣n
nguyên cường độ nên khi vào Quảng Trị, toán
lính Bắc quân vẫn giữ được tính chất
cực đoan, cường bạo để thúc dục
tinh thần và nâng cao khả năng tác chiến - Khả
năng giết dân và quân dân Miền Nam.Ở chiến
trường Kontum, tuy trải qua một chặng
đường dài di chuyển, lại chiến đấu
trong hoàn cảnh khó khăn, tinh thần Bắc quân vẫn
chưa hẳn hoàn toàn tan vỡ v́ các trận đánh ở
dăy cao độ Delta, Charlie, Hotel phía tây Quốc Lộ 14,
ở đèo Chu Pao không có sự hiện diện của dân.
Đánh trong rừng, người lính khai triển tối
đa khả năng chém giết, không bị ghê tay bởi những cảm giác ân hận,
lỡ lầm. Nhưng ở An Lộc th́ khác hẳn, Bắc
quân từ mật khu bôn tập về mục tiêu màdân
nhiều hơn lính- Dân dáo dác, sợ hăi, trốn lánh và
chết thảm... Ḷng người nào trong cuối đáy
không thoáng ân hận khi chính tay ḿnh hạ
sát kẻ tay không?! Thêm vào đấy, các công trường 5,
7, 9 chỉ là chỉ danh của các sư đoàn “mặt
trận” có cán bộ và lính người Nam xen kẽ cùng
những người từ phương Bắc
đến. So sánh đă xẩy ra, chuyện tṛ sẽ
tỏ rơ, lính Bắc nhận được chân dung đích
thực của ḿnh, biết rơ hành động phi lư khi
rời bỏ quê hương từ một chốn mịt
mùng để dấn thân vào cuộc chiến tuyệt
vọng.Tuổi 15, 16, 17 rất dễ bị kích thích
nhưng cũng mau mắn ngă ḷng - Số tuổi trung
trực, nhạy cảm và thơ ngây. Lính Bắc ở
mặt trận này bị phá vỡ toàn diện hệ
thống tinh thần v́ chiến trường lộ
mặt: Hàng ngày dân chúng vượt qua “băi pháo” qua Xa Trạch,
Tầu Ô... vượt nỗi chết để chạy
về phía lính Cộng Hoà... Tất cả thực tế nầy
như cánh tay nghiêng ly nước lă
đầy. Lính Bắc vỡ mặt, thấy
ḿnh kẹt trong chiến trường phi nghĩa, vô nhân
đạo. Nhưng quả muộn màn v́ cổ đă
bị xiềng vào đồng đội... Giờ
báo tử cho bộ binh Bắc Việt đă điểm.
Thư của người t́nh hư vô,
Di chuyển trong 6 tháng với cơm khô muối hột,
dự trận chiến vô vọng, lại có thêm hoàn
cảnh để so sánh. Người dân miền
Anh Hưu thương :
Thế nào, hai Chủ nhật trôi qua có nhớ lắm không
?Có thể nói từ khi anh và em cùng nhau bắttayxây dựng
vợ chồng th́ hai Chủ nhật này là hai Chủ
nhật khó khăn và nặng nề vượt qua lắm
anh hè. Em biết lắm rồi, trong những giờ phút
đó anh muốn thét lên thật to để làm sao ôm
lại những lời nói của anh, rồi cùng anh nói chuyện,
em cũng biết lắm những bước chân đi
trong những giờ phút đó nó như một con
người không có tri giác mà những bước 9di đó
không hề biết đến, không hề nhớ đến,
đầu óc sẽ triền miên suy nghĩ, những cái
gọi là kỷ niệm ở đời sẽ hiện ra
và bắt đầu như diễn kịch trước
mắt.Thật đúng tâm trạng của anh lúc đó em
sẽ đoán được, v́ sao em lại biết tài
như thế ?V́ em đă nằm giữa trái tim anh, ḍng máu của
anh đă cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù
sao, dù ở phương trời nào em đều đoán
được.
Thế nào rồi đó, chân sưng to không bằng cái
“cột đ́nh” chưa ?Vai đă lột những lớp da
bên ngoài gọi là “hồng hào” chưa ?Có đau lắm không anh
?Có hỏi họ để t́m lá dầu ngoại khoa mà bóp
chưa, nhức lắm anh hè.Anh Hưu ơi, em biết
đi đường vất vả lắm rồi đó,
ăn uống khô khan như vậy có mua ǵ cải thiện đến
không ?Trân đường đi có xẩy ra đau ốm ǵ
không ?Nghĩ đến đó em tê buốt cả người,
càng thêm nhớ nhung suy nghĩ, có sinh racái mụt nào
để làm thêm đau đớn bản thân không ?V́ mùa này
là mùa mụt của “đồng chí” đấy phải
không Thủ trưởng.Hai chữ Thủ trưởng nói
cho vui vậy thôi, chứ không phải em mơ ước
như vậy đâu nhé.Thật ra tâm trạng của em
chỉ mơ ước rằng sao cho ba năm nghĩa
vụ xong anh được an toàn cùng về với em, em
muốn nhắm mắt làm sao thời gian sẽ trôi nhanh
đi và nhanh đi nữa để anh và em được
về sống trong một ngôi nhà nhỏ hẹp, để
cùng nahu vượt qua khó khăn, cùng nhau hưởng
những hạnh phúc đẹp đẽ.Những hạnh
phúc đẹp đẽ, những cái đó em nuôi một
mơ ước, một mộng đẹp, chứa
đựng nó trong một khối óc, trái tim đầy
t́nhchung thủy của t́nh nghĩa vợ chồng đă
nhen nhúm từ lúc đầu.anh ơi, xa anh đi, em nhớ
lắm, em thương anh lắm, anh nói, anh cười, anh
tŕu mến thương, em làm sao quên được.Có ai
hiểu thấu tâm trạng của em trong những lúc nh́n
vật của anh, từ nét chữ anh viết cho em,
rồi đến cái nh́n nữa ... Chao ơi em muốn
bấu lấy mà nh́n, nh́n măi, nh́n vui nào cho chán được.Anh
Hưu ạ, nói măi cũng không hết nhớ nhung của
em lúc này đối với anh, thôi em nói chuyện khác anh nhé
...
Trên đây là hai trang đầu tiên của chị Nguyễn
Thị Hàng, giáo viên ở Nghệ An viết gởi anh Lê
Văn Hưu địa chỉ là : 271003 TB 04, thuộc cánh
quân của trung Đoàn 124 phối hợp với
Đại Đội1/117 Trung Đoàn 203 Thiết Giáp, không
biết rơ anh ở đơn vị nào ... Thư viết
bốn trang, tôi ghi lại hai trang đầu không sửa
một nét, không thêm một dấu ... Đầu năng và
tay run khi viết lại những hàng chữ trên,
người yêu Lê Văn Hưu của Nguyễn Thị Hàng
đă chết, chết ngay tại trận đầu tiên
sau sáu tháng vượt Trường Sơn vào Nam giải phóng.Người
yêu đấu đó đă chết, làm ǵ c̣n “ba năm
nghĩa vụ quân sự chấm dứt để anh
về với em” hở chị Hàng ? T́nh yêu, nỗi lo
lắng của chị chỉ c̣n vang động trên hư
không, người yêu dấu rất thương của
chị không phải chỉ bị nổi mụt, sưng chân,
trầy vai, cảm sốt.Anh Hưu đă bị chết
bởi đạn, bởi bom, chết hai lần, ba lượt,
chết cháy, chết tan hoang, tiêu tán và tàn khốc.Không
phải lỗi của chúng tôi chị Hàng ạ, chúng tôi
phải tự vệ để sống c̣n, cũng không
phải của anh Hưu, anh ấy cũng muốn ở
lại bên chị để được “cười rúc
rích với nhau dưới lớp tơi lá,” để
được ăn ngô v́ “vườn ngô trước nhà
đă được mùa,” để được ăn
cá và bánh do chị và mạ làm ... Anh Hưu không muốn qua
đèo Mụ Già, không muốn qua Tchepone, Lao Bảo, anh muốn
ở cùng chị để tay nắm tay và “máu cùng chảy
với nhau..”Tội này là tội của chúng nó - Lũ
đồ tể tay không dính máu, hồn cứng ngắt
bởi quyền thế và danh vọng.Lũ chúng nó say
thứ nặng nhất trong tất cả mọi nỗi
đam mê - Chúng nó say danh, say tiếng - Trời hỡi, chút
tiếng tăm vang động trên năm châu, trên trăm
ngàn tờ báo của mọi nơi đă làm con người
biến dạng thành quỷ quá dễ dàng thế sao ?Lũ
ngạ quỷ trầm luân mang danh người và chiêu bài
cách mạng giải phóng.Chính chúng nó, thứ thiên tài chết
ngập đầy oan khiên ... Chị Hàng thân mến, tôi
người miền Nam không biết được
chị, nhưng tôi cũng có một người yêu, một
người vợ lo lắng đón chờ mỗi lần
tôi bước ra đi ... Tôi đi ngắn, chỉ qua vài trăm
cây số và về lại trong b́nh yên, anh Hưu đi
đường xa vạn dặm, chuyến đi vào mịt
mùng, vào tan vỡ ... Anh Hưu không thể trở về,
không bao giờ trở về được ... Gởi
lời chào đau đớn đến chị,
người đàn bà chờ đợi người
chồng bộ đội không hề trở về -
chị Nguyễn Thị Hàng, ở ngoài Bắc, một vùng
đất khổ quê hương tôi.