Phan Nhật
Mùa hè đỏ lửa
II
Đốt
Charlie,
Bây giờ là buổi chiều. Buổi
chiều với nắng vàng và gió lộng. Không c̣n tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi
bốc những sợi khói nhỏ, mờ mờ hơi
nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời
nhưng do âm ỉ của thuốc súng chưa kịp tan,
c̣n lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.
- Thiếu tá... H##7843;i gọi nhỏ Mễ.
Lúc riêng rẽ, ít khi hai người gọi nhau bằng
cấp bậc, nhưng bây giờ, t́nh h́nh đă khác, trách nhiệm
và bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc
động trong ḷng qua cái chết của người
chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ,
Thiếu tá, tổng kết là ḿnh chết 20, 40 bị thương
cần di tản,
Mễ gật đầu, đưa mắt nh́n hỏi
Liệu...
- Đúng vậy! >>Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nh́n xuống xác
anh Năm, như một cách lẫn tránh.
- Dạ, có ông Hùng muốn nói chhhuyện với thiếu tá. người lính truyền tin đưa ống
liên hợp cho Mễ.
Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Tŕnh Mê Linh (danh hiệu
truyền tin của Mễ), ở tôi th́ không có ǵ, nhưng
từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (Tiểu
đoàn trưởng) nói ǵ với tôi hết... Giọng Hùng
mang vẻ trách móv xa vắng, ắt hẳn hắn đă
linh cảm được tai nạn
xảy ra. Mễ nh́n xuống xác anh Năm, đôi mắt
đỏ mệt mỏi chớp chớp, h́nh như có
giọt nước mắt lưng tṛng,
- 008 đă bắt tay với ônggg Phan (Tiểu đoàn
trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đă tử trận
Hạ Lào, 1971), biết thế thôi, đừng nói cho ai
hay...
- Dạ, tôi nghe rơ Mê Linh. Hùng khôôông c̣n hơi sức
để hỏi ǵ thêm.
Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính
biết. Tất cả ra giao thông hào.
Mễ ra lệnh ngắn. Lời
nói đanh cứng, dứt khoát. Trong ráng chiều,
những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dỏi
trận đánh nơi cao độ C.
Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao
độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một
vào căn cứ, xong bộ binh sư đoàn Điện
Biên từ hai hướng Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi
điễn hành tiến vào...
- Đúng là tụi nó điên r##7891;i, không điều
động, ẩn núp ǵ cả... điện biên cái con
c...!! Lính ở C1 và C2 dồng đứng dậy khỏi
giao thông hào chơi tṛ chơi mới,
- Mầy bắn vào cái hố cóóó bốn thằng núp
dưới kia, nếu trật th́
để tao. Hai người lính đại đội 112
thách nhau dùng súng phóng lựu M 79 và hoả tiễn cầm tay M72 từ đồi cao bắn xuống.
Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất
bụi bay lên... Bốn thân xác phơi trần trụi,
vật vă, lăn lóc. Người lính
nhỏMiền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút
chốc họ đă trở nên thành những bia
thịt sống thậm vô ích và chết với gía qua
rẻ.
Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo
dài năm đợt. Lính Thinh đánh
tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên,
Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ tối
nay, nó hết đạn th́ sao...
Hải gọi liền máy, bảo Thinh,
- 401 ( Thinh) &&đây 06 (Hải), anh xếp
va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về
ở với bố mẹ...
- Vâng, vâng, tôi nghe rơ, tôi cũng có ư định đó v́
kẹo gần hết, nhưng sợ 008
và 007 (Tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến giờ
nầy, Thinh vẫn không biết người anh cả
của tiểu đoàn đă đi khuất. Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan
vui sướng” về với bố mẹ”. Thinh đâu tiên đoán được đến
lượt ḿnh ở ngày mai?!
Đại đội 111 rút được về C2,
năm giờ chiều, trời chỉc̣n chút ráng
đỏ, gió lạnh... Đỉnh Charlie
trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và trong
hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm
người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ
Điện Biên của sư đoàn Thép, đơn vị
vang danh bốn chiều lục địa, những
người lính Quân đội Nhân Dân của nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, tất cả
đồng nhào lên Charlie một lượt... Những “bàn
chân gang thép mang linh hồn vũ bảo vào
... Bom!! Bom!! Đốt cháy tụi nó hết!! Mễ nói
như thét,
- Có ngay! Hải “kkkhều” ngay ba phi tuần
Napalm; toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không
kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính
xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc... Lửa
lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn khói đen
cuộn lên lớp lớp... Trong cỏ cây cháy
khét có mùi thịt. Thịt của
người và thịt của thức ăn. Lính cộng
sản sưđoàn Điện Biên Phủ vinh quangchết
trên mục tiêu vừa chiếm lĩơnh - Những hộp
thịt thức ăn chế tạo tại Mỹ.
Ngày 13 tháng Tư, Mễ cho đại đội 112 xuống
chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên
“hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay
bởi một hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly
bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây. Bộ
chỉ huy tiểu đoàn không một chút do dự: Cho
thằng 2 về, tụi nó hận ḿnh về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử
bung quân ra hướng Đông để t́m băi đáp.
Phải có một băi đáp bất cứ gia nào, thưlng
binh, người chết, xác anh Năm...Tât
cả cần phải di tản. Sự
hiện diện của những đau đớn nầy
làm ḷng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lư
phục hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy
sụp lo sợ. Phải di tản
gấp số thương binh. Mễ nói với Thinh:
- Ông gắng ra chỗ nầy, (một trăng trống cách C2
khoảng ba trăm thước về hướng
Đông), kiếm được LZ( băi
đáp trực thăng), di tản hết thương binh
và người chết, tụi c̣n lại mới yên ḷng
được. Đừng để cho lính
có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ
giản dị, dễ xúc động. Hơn
nữa, ḿnh hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.
- Dạ, thiếu tá để tôi.
Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn
đại đội chỉ trên khoảng bốn
mươi người rời căn cứ. Cái trăng
trống kia rồi, 50, 40, 30...Gắng
chút nữa, ḿnh có nước uống!! Thinh
thúc dục người lính. Nhưng không
thể được. Bắc quân bắt đầu
khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung quanh. Nguy hiểm hơn,
địch cắt đứt đường về, quân
ở C2 cố ra đón bị chận lại, không thể
dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn.
tiến không được, thối lui không
xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn
sơn pháo từ dăy cao điểm phiá
Mễ nổi điên trong giao thông hào,
gọimáy liên lạc với đại đội 111,
- Ở đấy c̣n có ai?
- Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lc tiền sát pháo binh đáp
mau.
- Anh coi đại đội, cố dẫn về lại
tôi, có thằng 4 ra đón.
- Tôi nghe đích thân rơ. Người sĩ quan
pháo binh gom quân làm một mũi dài. ...Đánh!! Để tao đi đầu, lựu đạn
mở hết kíp ra. Trung sĩ Lung,
người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn
đầu toán quân, xung trận như mũi tên lửa.
Đường về có được rồi, bắn
bắn che nhau, Lung về chót... Nhưng c̣n hai ông thầy!! Lung cố chạy ngược trở lại
nơi xác của Thinh và Ba. Một loạt đạn
vô t́nh nào đó... Chầm chậm Lung ngă
xuống. Ba xác chết chồng lên nhau
bất động.
Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công
mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2,
căn cứ chính.
- Tụi nó dứt ḿnh. Đꥄợc, mầy “điện
biên” tao “nhẩy dù”, xem ai hơn ai... Tất cả
ai ngồi được, kể cả bị
thương, ra hết giao thông hào, thằng nào kêu la khóc lóc,
tao bắn chết. Chính tao bắn...
tụi mầy để thua, tao bombing vào đây.
Chết, chết tất cả!! Mễ gào lên,
xong ngất xỉu.
Liệu nói nhỏ, th́ thầm sát tai
Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông
chết luôn, hết người chỉ huy.
Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn
xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn
pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng
khỏi giao thông hào... Vào nữa...vào nữa
đi con...Có đứa nào già không mầy? Tao chỉ
thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng
có thể bóp cổ tụi nó được!! Trước
mắt lính nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa
trẻ” cứ tuần tự đi tới... Những
lớp trẻ con chơi tṛ đánh nhau. Chơi tṛ chơi
ác độc do ép buộc, tuyệt vọng và vô nghĩa lư.
... Không nương tay với nó... Napalm
Hải!!
- Có ngay!!
Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao
giờ thấp hơn, dưới đất thấy
được chiếc mũ trắng của anh pilot; h́nh
như anh muốn nh́n quân bạn, anh muốn chào thăm
hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ
thường hạ thấp cách mặt đất
khoảng vài mươi thước để “chào băi”.
Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát
xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả
bom với cao độ như thế nầy chắc
chắn không chệch một thước, bom nổ cháy xém
đến tuyến pḥng thủ của quân bạn, đám
lính Bắc lăn lộn trong băi lửa,
chạy dạt ra xa... Nhưng ô ḱa, hai chiếc skyraider không
lên được nữa... Ḷng can đảm và t́nh
đồng đội đă giết các anh. Các
anh đă xuống quá thấp để ném bom thật chính
xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh
đă quên thân ḿnh... Hai cánh đại bàng chúi
xuống. Chúi xuống nữa và bốc cháy... Vĩnh
biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận
đánh. thây người cháy đen
nằm chật sườn đồi.
...chúng nó đánh, chết như thế
để làm ǵ nhỉ!? Một ngày
của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu
nóng đi qua. Trời tối dần.
Đêm xuống... Người lính dựa
lưng vào giao thông hào liếm môiâ. Môi anh nóng như
miếng vỏ cây bi nung khô... từ sáng đến giờ
chưa được uống nước. Anh
không c̣n sức để nghĩ thêm sau chữ
“nước”.
Ngày 14 tháng Tư tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận
hơn 2000 đạn “delay” và nổ chụp. toàn bộ tiểu đoàn 11 co ḿnh trong giao
thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt
đoạn.
... Nó nổ xa ḿnh. Hải
thều thào,
- Ừ phía Tây, ngoài tuyến ḿnnnh. Liệu
tiếp lời, gật đầu đồng ư với
Hải. Nhưng thật ra cả hai
đều tự dối, pháo không rơi một
điểm, một tuyến, pháo chụp toàn thể C2.
Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất
cả những lời nói chỉ là cách tự đánh
lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng
chính ḿnh.
- Hôm nay 14? Liệ;;u hỏi bâng quơ, gợi
chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ sắc buốt.
Mễ Hải không trả lời, đưa mắt ḍ
hỏi. C̣n lời nào trong cơn mưa lũ của
sắt thép vang độâng nầy ?!
- Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày
đầy tháng con tôi...
Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và
Hải không hiểu ư Liệu. Không hể hiểu
nổi... V́ Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày
đầy tháng con bố lại chết?! “
Chết”, chữ nhỏ ngắn nầy làm tê liệt hết
phản ứng. Chết đến từ tiếng
“bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama... xong nổ
“oành” đâu đây... H́nh như ngay trên đỉnh
đầu, trong ḷng nón sắc đang vang động u u.
Giữa khoảng cách kinh khiếp nầy chữ “chết“
hiện ra sáng rực như một giải quang báo,
tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp
tục... tiếp tục... Bốn cây 130 ly
nơi xa nă đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng
ngắt khoảng ngắn.
Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo
chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm
giọt, bắn thẳng vào căn cứ.
- Xong rồi, tụi nó “chơiii’ ḿnh lại. Mễ
đứng khỏi giao thông hào. Đêm nay là quyết
định, ḿnh và nó last fighting... Mễ báo cáo
với bộ chỉ huy lữ đoàn,
- Bây giờ tụi nó hết “iiin coming (pháo kích)”, và bắt
đầu “ground attack”. Không phải Mễ sính dùng
tiếng Mỹ, bởi thông thường, những danh
từ kia phải được
nguỵ hoá, nhưng bây giờ t́m đâu ra th́ giờ
để ḍ t́m từng từ trong bảng “Ám danh đàm
thoại”.
- Nó đánh anh chưa? Viên l đoàn trưởng ở
căn cứ Vơ Định vào máy liên lạc trực
tiếp với Mễ.
- Bắc đầu ở h꣖ớng cũ, tây và tây-nam,
heavy attack,
Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng
colt lên ṇng, bác sĩ Liệu lúi húi t́m mấy trái lựu
đạn... Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi,
chơi “đồ chơi” mới vậy, lần sau đi
hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60!! Không ai c̣n sức hưởng ứng câu đùa
của Liệu. Mễ nhăn mặt đau
đớn, ngày hôm qua bị một quả pétard (thủ
pháo, một loại lựu đạn biến chế)
nổ quá gần, sức nổ ép cứng xương
sườn vào vách hầm, để lại những
vết máu bầm lấm chấm...
Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm
đặc thêm v́ khói súng. Bắc quân đă
chiếm được một phần giao thông hào,
tuyến pḥng thủ của đại đội 114...Tŕnh
Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột”.
Cho, đại đội trưởng 114 báo cáo với
Mễ,
- Hải, nói với lữ 櫅oàn nó vào tuyến ḿnh
rồi,
- Tao...tao mệt... nói không ni, Liệu giúp hộ...
Bác sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom
lưng lẫy súng colt lạch cạch như trong phim
cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin,
... Dễ thôi, để tôi... Tụi nó cắm
được một phần vỏ lạc của tôi...
Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt,
- Ông phải la lên mới đ&&ược, đùa thế,
ngoài ấy tưởng ḿnh giỡn,
- Giỡn làm sao, không đùa nh##432; thế, chẳng nhẻ
lại khóc lóc mếu máo sao... Ê... chạy đi đâu!!
Liệu quay ṇng súng colt về phía một anh lính đang nháo
nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm,
- Đi ra, ông bác sĩ không bắn
mầy th́ tao bắn cho mầy biết chết như
thế nào? Mễ hét lớn với người lính... “biết chết như thế nào?!”. Mễ
cũng buồn cười v́ lời nói của ḿnh... Chết rồi, th́ biết chó thế nào nữa?!
Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật
gần, bắn Mễ ngă ngữa người xuống.
Mễ lồm cồm ḅ dậy, sờ lưng,
...bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! Mễ thều thào.
Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo
rách lỗ chổ...Đếch có ǵ cả, mảnh nhỏ
như bụi, v́ ông yếu sức nên ngất thế thôi,
đây là hậu quả những cú đấm của
thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!
...C... giờ nầy mà mầy c̣n trêu được!
- Stupid! Why you fire forty-five? Anh v&&ố vấn trưởng,
thiếu tá Duffy hét vào tai Liệu,
- I have only this... Mẹ mày, gi nầy c̣n why với
what....What cái cần câu ông ấy,
Một đợt, hai đợt... năm đợt,
Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại tiếp
tục tràn vào, chiếm được một đoạn
giao thông hào, xong lấn dần từng đoạn,
- Không xong rồi, nó nhiều “tttiền” quá! Hải
lẩm bẫm.
Mễ nh́n Liệu, Hải, cố vấn
trưởng Duffy. Tôi muốn ở lại! Mễ chắc giọng.
-Nó vào chỗ thằng 4 (đ##7841;i đội 4), đang
qua chỗ thằng 2, ḿnh hết đạn... Dọt, tôi đề nghị. Hải
khôn ngoan, dứt khoát.
- Phải, ḿnh “ra” đi, ở đây chịu không nổi,
tụi nó đông gấp mấy ḿnh. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh
trống không.
Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu,
...No hesitation, the best way... Sir? Duffy,
Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ,
người quấn băng loang lổ máu khô, anh đă
bị thương ba nơi trên thân, nhưng quyết ở
lại với tiểu đoàn. Viên cố
vấn, hiểu được phút giây nghiêm trọng
đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi
người cùng cấp bậc, một thiếu tá người
Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.
- Đồng ư, cho thằng 2 dẫn
đầu, xong đến đại đội chỉ huy
và thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy
qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn
nầy. Mễ chỉ một vùng tập
trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ.
Bảo nó đi ngay, mang theo thương
binh.
Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ
phải “chạy”, Mậu Thân, 1968, ở Huế, với
đại đội chỉ c̣n ba mươi người,
dẫu trùng trùng nguy khốn, Mễ vẫn điều quân
phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ.
Nhưng, lần nầy, viễn ảnh toàn bộ tiểu
đoàn bị tràn ngập, Mễ không c̣n cách nào khác hơn.
- Hướng đông-bắc, 88800 ly giác, thằng 3 sẽ ra
đó với ḿnh. Hải chuyển lệnh cho Hùng “móm”, thành
phần xung kích c̣n lại cuối cùng của đơn
vị.
...OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng
“móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng
đang xẩy ra.
Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời
tối thẫm và cây rừng đan lưới.
Chỉ tiếng lá khẽ động dưới
bước chân cùng những thanh âm rên rỉ gầm gh́m
trong cổ họng.Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như
muốn tan thành vật vô h́nh. Sau lưng
họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đă thả xuống khi người lính
cuối cùng đại đội 1 ra khỏi ṿng vây.
Thương binh nặng và xác “anh Năm”, chuỗi cảnh
tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ.
Mệt, cảm giác rơ rệt nhất, ba ngày và đêm không
ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lă cầm
hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm... Đi nữa đi Hùng, đúng hướng
rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao
giờ đến chỗ trống th́ báo tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái,
thấy mặt trời th́ bảo. Mễ
th́ thào chuyển lệnh cho Hùng, đại đội
trưởng đại đội 1.
Mặt trời chưa thấy, đêm c̣n
dầy. Dầy từng khối lớn
mông mênh và đặc cứng. H́nh như đă
đến đáy một “tan-véc”(khe
nhỏ chạy giữa hai chân núi), chân bước lên lớp
đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt nước”. Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và
đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước.
Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi
liếm miếng nước vô h́nh đó .
Qua khỏi “tan-véc”, lên đỉnh đồi,
thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập
bùng. Bạn bè ta c̣n đó, sống làm sao
được hở trời ?Mễ
kiệt lực hỏi,
- Hải, khi chót ḿnh để “anh Năm” ở đâu ?
- Ở giao thông hào, nơi hầm đại
liên. Mễ và Hải chỉ nói với
nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và ŕnh rập vẫn c̣n rất
nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ
?Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó
càng tốt, giữ được súng và thương binh
nhẹ như thế này cũng tạm coi như là
“đẹp”. Đẹp, h́nh như Mễ
cười chế riễu ḿnh trong bóng tối. Thôi,
đừng nghĩ ǵ nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt
trên đầu, khi cởi ra c̣n nguyên ảo giác của âm
vang tiếng nổ lộng trong ḷng chiếc nón kim khí.
Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng
sảng khoái, bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như
chớp:
- Tôi thấy “nó” rồi phía
Mễ nh́n lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng
nắng, nhưng ngày đă bắt đầu, trăng trống
vùng tập trung đă gần đến. Thoát
rồi chăng? Mễ tự tin nhưng cũng
rất đầy kinh nghiệm: Nó phục ḿnh ở đây
nữa th́ tan hàng!! Ư nghĩ kinh khiếp như một
mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh
đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp...
- Kêu thằng “Đỗ Ph” đến tao Hải,
- Duffy come here... Viiiên thiếu tá cố vấn đang
đi sau Hải và Liệu nghe kêu, mỉm cười
bước lại. Ba lần bị thương,
bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ, Duffy
vẫn “cứng” như một khối thép, đầu
đội mũ đi rừng, khẩu M18 đặt ngang
hông, tự tin và b́nh thản như một ư chí không lay
chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn
lẫn xác, number one! Liệu nói với Hải khi Duffy qua
mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ư,
mỉm cười: Hello Doc!!Trong phút chốc sự việc
khủng khiếp của bốn ngày căng cứng như
vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến,
nắng đầu tiên của ngày, ḷng người lính
duỗi ra theo độ ấm của
vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng
biết bao nhiêu!
- Đây nhé Duffy, vùng tập trunnng của ḿnh, 113 bên trái, phe ta
bên phải cùng “move” lên. Ḿnh làm một cái LZ (băi đáp), xong
“mày” gọi “Tây” đem máy bay tới móc ḿnh ra, OK ?
- OK Do !! “汼ỗ Phủ” gật
đầu lia lịa... Good...very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng
Mễ.
- Tao hay hơn nhiều, cú này b&&ị “kẹt”, mày khen làm tao
ngượng. Duffy không biết Mễ nói ǵ,
cười rộng mồm, Mễ cười theo.
Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và
Hùng “mập” cùng lên trăng trước. Hai cậu Hùng “bắt
tay” nhau, làm thành ṿng pḥng thủ, phần c̣n lại của
tiểu đoàn với đám thương binh “ḅ” lên
tiếp... Xong rồi, khá an toàn, giữ được cái
trăng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay chưa ?
- OK! Ten minutes, sir!
Nhưng không c̣n “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa!
Một trận mưa rào, mưa đầu mùa... Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo
từ những cao độ phía đông “tưới”
xuống. Bắc quân tấn công bộ
từ đông-nam lên. Không hầm hố,
không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn
ngày đă đến đỉnh cao nhất chịu
đựng. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối
trên trăng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới
chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh
đạn thép... Hàng sống, chống chết! Hàng
sống, chống chết! Bắc quân ào ào như
nước lũ tràn đi qua con đê
bị vỡ. Tiểu đoàn 11 tựa t́nh cảnh con báo
kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong
cực độc! Bây giờ là 8 giờ sáng của ngày 15-4-1972,
Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới tinh của Anh Năm,
tiểu đoàn đă khoan thủng bức tường thép
của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn
“nướng sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn
Điện Biên trên cứ điểm C- Thua. Thua đau
đớn và thua vô lư!! Đâu c̣n có thế để
dựa vào. Đâu c̣n lực để đương
cự ?!
Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”.Thế
đă mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước
xuống cao điểm với một nhiệm vụ “pḥng
thủ” quá mỏng manh thụ động, và lực nào c̣n
nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến căng
thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu
thốn toàn diện. H́nh như mọi người
đều không ăn, uống kể từ ngày 12.Uống,
nếu có chỉ là chữ gọi động tác “nhúng”
chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt.
Tan hàng!! Những người sống sót c̣n lại tan
biến vào rừng cỏ tranh.
Người ở lại với CHARLIE,
Charlie tan, trên đất đá điêu tàn chỉ c̣n
vươn văi khói xám và thây người. Trong
đó có Anh- Người đàn anh kính mến đă cùng tôi
chia xẻ quăng đời dài. Những
ḍng chữ viết để nhớ Anh - Nguyễn Đ́nh
Bảo.
Ngày 22 tháng 5, ông Nixon đi Nga, không ít th́ nhiều chuyến
đi ấy đă có tác dụng với cuộc đại
tấn công của Bắc quân vào ba quân khu.Rất nhiều
giả thuyết về cuộc kịch chiến này
được đem bàn tán, nhưng tất cả
đều đồng ư: Chuyến đi có ảnh
hưởng đến trận đánh và đây cũng là
trận cuối mùa, một mùa đại loạn
đẫm ướt máu đỏ chảy trên những
thân thể gọi là “người Việt Nam”. Ngày 22 tháng 5 ông Nixon khởi đầu chuyến
đi, ngày 12 tháng 4 anh chết. Sao anh không
gắng sống? Anh chỉ cần gắng thêm một
tháng rưởi nữa, nếu chưa chấm dứt,
chiến tranh có thể mang những h́nh thức khác,
cuộc đại tấn công này sẽ được đ́nh
chỉ lại, hoặc chuyển qua vùng khác... Những vùng
dễ đánh để anh có thể tung
hoành như anh đă làm nhiều lần trong tháng năm chinh
chiến dằng dặt. Và biết đâu chiến tranh
sẽ biến thái lại nên thành chiến tranh du kích, anh là
tiểu đoàn trưởng đơn vị Nhẩy Dù,
làm sao có thể chết được trong những
“chiến tranh an toàn” như thế!
Tại sao anh không gắng sống?Tại
sao thế hở trời ?
Vẫn biết rằng đi chiến
trận là mất mát. Không chết trước th́
chết sau... Trước anh cả trăm ngàn người
đă nằm xuống. Anh đă cùng tôi chứng kiến bao
nhiêu lần “nghỉ phép” của ông Huệ, Thừa,
Hổ... Anh gật gù, “Thôi tại số, ḿnh gắng
chịu vậy...”. Anh
gắng chịu đă quen. Anh đă thoát
nhiều lần. Từ trung đội trưởng
tiểu đoàn 8, anh qua tiểu đoàn 3; làm đại
đội trưởng tiểu đoàn 1 và tiếp theo tiểu đoàn 9. Anh đă dự bao nhiêu
trận từ thuở ông Đống mới làm tiểu
đoàn trưởng giờ này là Trung Tướng Tư
Lệnh; anh đánh trận từ lúc chiến tranh c̣n
như là tṛ chơi, ông Tư “Ḥa Hảo” đi thuyền vào
họp với Việt Cộng, đám giặc cỏ
chỉ vài cây súng ngựa trời hay 2 khẩu Mat 36
để thay đại liên. Từ những trận
đánh nhỏ đó, anh được “trưởng thành
trong khói lửa”, thành ngữ nói ra nghe có vẻ “cải
lương” nhưng quả thật không c̣n chữ nghĩa
nào để dùng chính xác hơn. Anh đánh
trận Ấp Bắc, giải vây đồn Bổ Túc vào
những năm 60, với những trận đánh mở
đầu “chiến tranh giải phóng”. Chiến tranh
lớn dần như một thứ quái thai
được mùa, như tế bào ung thư ngon trớn,
chiến tranh lớn như sinh vật quái dị ở hành
tinh khác đến đây nẩy nở theo cùng chiều
rộng của không gian. Khói lửa từ
đấy dậy lên như giông băo. Trong “môi
trường” hào hùng độc địa nầy - Anh
trưởng thành.
Anh già hơn không phải do số tuổi, nhưng
chiến trận, hành quân như nối mối thời gian
để nhắc nhở mỗi ngày, mỗi tháng, năm
anh qua... Năm 1965 giải vây Đức Cơ, Pleiku;
năm 1966 bị phục kích ở Cheo Reo, cũng năm này
“giải phóng” Bồng Sơn, Tam Quan.67 “lội” nát
người suốt vùng Thừa Thiên, Quảng Trị,
từ cái làng nhỏ ở bên kia sông Hương nh́n ra phá
Tam Giang, đến cuộc tấn công vào khu phi quân sự
đổ từ đèo Ba Giốc xuống. Hết 67
đến 68 anh đem quân về vùng đồng Ông Cộ,
Hốc Môn, Bà Điểm; Việt cộng tấn công
đợt Hai, tiểu đoàn 9 do anh làm “ông Phó” có cơ
hội “rửa mặt” nhân vụ tịch thu cả hầm
vũ khí chở đầy một chiếc F.O.M.Chiến
thuật thay đổi, từ ven đô anh di chuyển
về Tây Ninh để “cày” từ Tống Lệ Chân qua
Katum, Trại Bí... Suốt một vùng biên giới dài theo con sông Vàm Cỏ anh đi như không
mệt... Anh đi như định mệnh
đốn mạt bắt anh dính liền vào mỗi
thước đất phải bước qua.
Nhưng chưa bao giờ nghe anh than tiếng
nhỏ. Sự chịu đựng và vẻ b́nh
thản là tính chất căn bản của anh.
- Mầy biết nhá, tao di c꣖ vào, mỗi ngày phải
đạp xe mờ người chạy
từ trại định cư đến Phú Thọ
để lấy khẩu phần bánh ḿ và năm đồng
bạc. Mầy biết, tao tập thể thao to chừng
này, thằng Tây bán thịt gần trăm kư bị tao ném
một cú đ̣n vai, nằm luôn.
Anh là con nhà vơ, thắt đai đen nhu đạo
thời kỳ 56, 57, tính chất vơ chân truyền này là
nền tảng tinh thần của anh. Đó là một tinh
thần rất thường ở bề mặt nhưng
phần trong rất “sáng”; một thứ “sáng” mă
thượng, độ lượng và chân thật - Chân
thật và thẳng thắn tuyệt đối. Anh sống ở đời giản dị và
thẳng thắn như kẻ có vơ công thượng thừa
lại thêm tâm tư nhân ái. Anh không
một lần than thở dù lúc làm “ông Phó” ở tiểu
đoàn 9 anh bị “kẹt”. Anh bị
nạn. Anh bị “ép”. Bị “nát như cái mền”. Nhưng tất
cả đă không làđáng kể... Hăy nghe anh nói:
- Mày thấy, tao là lính tác chin, rồi cũng có ngày tao
phải chỉ huy, nhỡ bị kẹt là cái hạn
của ḿnh, sau đó ḿnh “bốc”. Anh cong một bàn tay lên làm cú “bốc” kèm theo tiếng chửi
thề “mẹ”. Sự bực dọc của anh
chỉ được diễn tả chừng ấy.Không
hận đời và tin ở ḿnh.Trong đời sống
b́nh thường, anh sống với thái độ khắc
kỷ thật cao thượng.
Anh Năm kính yêu,
Anh chết ngày 12 tháng Tư, đến giờ này, sau ba ngày
xác anh vẫn chưa móc ra được. Ngày 14 ông Bạch Long cho hai trực thăng và
một Skyraider vào, cố làm một băi đáp để
đưa anh ra, cả ba chiếc đều bị “shotdown”.
Người lính về nói với gia đ́nh như thế,
cháu Tường bẩy tuổi đă lớn, nhưng
cũng chưa hiểu nổi phận bi thảm của
lần mất bố, kể lại câu chuyện... Kể lại phút anh nằm xuống với
lồng ngực bị vỡ. Không
biết chi tiết đó có đúng thế không, nhưng cháu
cứ lập lại với mọi người xem như
như một nét “xuất sắc” của anh. Tội
nghiệp cháu quá anh ơi, nó đang lún xuống trong một
bất hạnh với quả tim
hồng và nụ cười sáng, nó nắm tấm ảnh
lúc anh c̣n ở trường, thắt đai đen bên
cạnh ông Hiếu... “Bố cháu là những người
“xuất sắc”!Ôi anh đă sống,
chết bới những hoàn cảnh cực độ. Những phiền năo cùng cực và vinh quang bốc
lửa. Anh di chuyển giữa những
cực điểm với tâm tư b́nh yên, lặng lẽ,
chiếc lưng gù xuống chịu đựng. Giờ này anh mới “thật sự nghỉ ngơi”,
một cách nghỉ ngơi cay đắng và khắc
nghiệt. Cuộc đời đă “ta-pi” anh
trước khi anh kịp đứng lên rũ
áo, thối tiền.Anh thua trong sáng suốt và nín lặng
cũng như ván bài ở lăng ông Cẩn ngoài Huế
trong tối mùa đông năm xưa... “Tao
biết mày tháu, nhưng cũng cho mày ăn.”Anh úp bài cho tôi
vồ tiền. Anh Năm ơi, anh
bị cuộc đời “tháu” cú này nữa. Cúù tháu độc địa và hết thuốc
chữa.
Anh chết thật rồi!! Tin cuối cùng rơ ràng về anh
do Hải “khều” nói lại không thể sai vào đâu nữa.
Hầm anh hứng đúng ba trái hỏa tiễn, mảnh
ghim vào tim và anh chết ngay phút đầu tiên, khi “tụi
nó” bắt đầu đánh biển người vào
Charlie.Hải “gói” anh vào ba lớp poncho, nhưng máy bay không
xuống được, Mê Linh lại bị thương.
Chúng nó phải “rút lui chiến thuật” v́ pháo và hỏa
tiễn rơi đến cả ngàn trái vào căn cứ,
đặc công cảm tử lại phá được hàng
rào ngoài.Giữ thế nào được nữa, Mễ
lẫn Hải đều bị thương, chúng cố
điều động phần sống sót c̣n lại
để mở đường máu, bảo toàn đơn vị.Phải
bỏ anh lại, chắc chắn Mễ đau đớn
lắm, v́ hắn và tôi đều nặng ân t́nh với anh
biết mấy; từ thuở ở tiểu đoàn 9, anh
“che” cho hắn bao nhiêu đ̣n; Mễ là đứa rất có
t́nh, bỏ anh lại nơi chốn núi rừng, vùi
dưới đống đất cát và lửa đỏ
chắc là vết thương dài đời không hết,
tâm hồn khó được phần quên lăng nguôi ngoai.
Mấy hôm nay tôi ngủ không được, mắt
nhắm lại thấy cảnh anh đang chết,
những giờ khắc cuối cùng, anh chống
ngược mắt xuôi tay và đi
khuất... Tưởng đến tiếng nói,
nụ cười và toàn thể không khí của bữa
cơm chót trong vườn Tao Đàn, đâu có ngờ
đây là bữa cơm vĩnh biệt?! Chưa bao
giờ anh vui vẻ và tự tin cho bằng thời gian
đó: “Số tao hết cực rồi, hạn 33 tuổi
đi qua... Tao làm lớn cho mày nhờ.”Tôi cũng
nghĩ như thế, v́ cái “vơ nghiệp” cứ phú quư
thụt lùi, thôi th́ chỉ mong ngày anh “làm ông tướng!!”Ngày
đó sẽ không bao giờ có nữa, cũng không c̣n
những ngày vui như buổi chiều cuối năm
mờ hơi sương, anh và tôi đứng ở
sườn đồi nh́n xuống sông Hương bốc
khói lam, nồng hớp rượu “số Bảy” không
đá, nghe từng âm ba rộn ră của men rượu tan
trong máu và cất tiếng cười bất chợt... Tiếng cười hào sảng thống khoái vang
động không khí u trầm bí ẩnchiều cuối
năm dầy sương lạnh.
Tôi cũng tin vào số mạng, biết rằng anh có
tướng lộ xỉ không được tốt,
nhưng bù lại tai anh dày, có thùy châu,
bước đi vững chăi... Nên nghĩ
rằng anh sẽ đi qua, anh sẽ vượt qua tất
cả hoạn nạn, v́ anh đă hoạn nạn dư
thừa, hoạn nạn ngập mặt. Từ
tuổi thiếu niên anh đă gian nan
phấn đấu, phấn đấu để thành
người và dựng đời, anh đối chọi
với khó khăn như con trâu miệt mài trên đồng
ruộng. Năm nay anh 35 hay 36 tuổi, tôi không
được rơ, nhưng h́nh như anh
chưa có ngày nghỉ ngơi toàn nghĩa. Cuối
đời, vừa le lói chút ánh sáng b́nh yên và hạnh phúc, anh
hân hoan sửa soạn tương lại, rộn ră như
cô dâu tốt số. Đời đă quật
anh cú chót và anh đành thua. Bao nhiêu năm tranh sống
để lúc chết quả tim đang hả
miệng cười.
Tiểu đoàn rút khỏi Charlie và phi cơ oanh kích căn
cứ. Ôi sao tàn khốc thế hở
trời?! Anh đă sống cay nghiệt
sao cái chết lại quá bi thương. Ba
lớp poncho gói thân anh làm sao che chở nổi h́nh hài vô tri
dưới cơn mưa bom, băo thép. Phép
màu nào giữ nổi xác thân anh? Vĩnh
biệt, Anh Năm kính yêu...Nơi chốn hư không
nào...Mong linh hồn anh được lần yên nghỉ.
Viết lại,
12, Tháng Tư, 1972 - 12 tháng Tư, 1998.
Lần “thật chết như luôn sống
lại”,
Dù bao lâu,
Cách bao xa.
* * *
Tạm kết,
giữa Mùa Hè,
Charlie mất, Delta ở phía nam do tiểu đoàn 7 Dù
phải rút đi v́ không chịu nổi cuộc
cường tập kéo dài qua ngày thứ tư; đai
Nhẩy Dù tan vỡ dần như chuỗi dây xích nút
đầu bị phá.Chỉ c̣n lại hai cứ
điểm chót là Bravo và Métro ở trái, phải Vơ
Định. Nhưng Vơ Định không thể là một
điểm chiến thuật vững chắc khi cạnh
sườn đă bị nhổ. Ngày 24, tháng Tư, phi
trường Phượng Hoàng (tây Tân Cảnh), Tân Cảnh và
hai căn cứ Diên B́nh, Zuzu ở phía nam lần
lượt tan ră. Vơ Định không c̣n là một
cứ điểm có khả năng kháng cự và bộ
chỉ huy lữ đoàn 2 đưa tiểu đoàn 7
dần dần mở đường xuôi nam hướng
Kontum. Kontum dưới ảnh hưởng của
việc mất Tân Cảnh biến thành cảnh địa
ngục với những trận đánh sát nách thành phố,
như ở Đại chủng viện, khu phi
trường. Những đơn vị đặc công
Bắc quân với ám hiệu riêng: Tay áo cuốn lên quá cùi
chỏ, quần xắn quá đùi, mảnh vải trắng
buộc quanh vai, đă đột nhập vào những
nơi trọng yếu của thị xă.Công trường 2
cộng sản sau khi dưỡng quân, vượt sông
Pô-kơđánh vào sườn của lữ đoàn 2 và các
chiến đoàn Biệt Động Quân. Hết,
lữ đoàn 2 Dù chỉ c̣n mỗi đường, các
tiểu đoàn tự nương bảo vệ lẫn nhau
rút về Pleiku. Lữ đoàn lại hết nhiệm
vụ Vùng II để ra Vùng I. Đường về Pleiku
phải qua đèo Chu Pao đỉnh núi 953 trông xuống sông
Dak Yeul với những cao độ thẳng đứng.
Chỉ c̣n mỗi đường này là sinh lộ, nhưng
sinh lộ phải qua điểm chết: Đèo Chu Pao. Hai
đại đội của tiểu đoàn 7 Dù do
Nguyễn Lô (Tiểu đoàn phó) chỉ huy mở một
đường đi qua điểm chết với
chấp nhận tỷ lệ thiệt hại 50% quân
số. Và cũng như bao lần của mười
năm chiến trận, Lô mở được cửa ngơ
về Pleiku, dân và quân theo đó rút đi.Rút đi khỏi
địa ngục, v́ Kontum không c̣n là thành phố sống,
người dân thất thần dáo dác giành dựt nhau
kiếm một chỗ trực thăng ở sân vận
động... Giữa bụi mù và tiếng nổ
đại pháo, cảnh người sống cuồng
loạn đổ xô vào ḷng trực thăng bất chấp
tiếng súng thị oai của quân cảnh. Họ chen nhau
như nước tràn qua đê vỡ để đến
gần, đến gần hơn chút nữa ngưỡng
cửa trực thăng, và lúc tay vừa chạm
được khối sắt xám phủ bụi
đỏ, chân cong lên sắp bước vào ḷng của “hy
vọng sự sống” th́ một cơn sóng khác,
đạp họ ngă xuống, kéùo hút ra xa...
Kontum cháy ngọn lửa hồng lên cao hẳn khỏi
rừng xanh. Chỉ c̣n mỗi h́nh ảnh b́nh
yên nơi thành phố đang bùng lửa này là hàng
phượng đỏ hoa gần câu lạc bộ ngă cành
xuống mặt nước sông Dakpla mờ sương
khói. Nhưng phượng cũng có màu
đỏ - Màu của máu.