Bức Thư Hối Hận
Chương 12
Năm 1942 là năm hoàn
cầu điên đảo, khói lửa tưng
bừng, nhà cửa hư hao, sanh linh đồ thán.
Đường
giao thông gián đoạn, cuộc thương măi gập
gh́nh. Nhiều nhà buôn bị lỗ
nặng nên phải đóng cửa mà chờ thời, song
cũng có nhiều nhà buôn, nhiều chợ đen mà
thạnh vượng. Hăng xe hơi
Việt
Trót năm
năm vừa qua, nhà của Cang cũng như Nghiệp,
vợ chồng cũng âu yếm, cha con vẫn thân yêu.
Măi măi cảnh vui cười cứ tiếp
diễn trong gia đ́nh, chẳng hề có một
điểm buồn lo hoặc một cụm mây
phưởng phất.
Cậu Hoàng
thấy thời cuộc chộn rộn, cậu không làm
thầu khoán, không dám lập vườn, mà cũng không
gấp cưới vợ. Cậu
chỉ lo cho mướn ruộng và góp lúa, lúc rảnh
chạy lên Sài G̣n ở chơi, sống một cảnh
đời tự do mà trưởng giả.
Cô Loan sanh được
một đứa con trai. Vợ chồng Cang
cưng như vàng như ngọc, Nghiệp hễ về nhà
th́ vui chơi với con, dường như đă quên
hẵn cái nguồn gốc tối tăm mà Cang đă khai
ngay ra hồi năm trước. Có khi
vợ chồng tṛ chuyện, Loan nhắc lại Vơ Như
B́nh, Nghiệp liền ủ mặt châu mày, kiếm
chuyện mà nói lăng. Cô thấy chồng
như vậy, th́ cô không dám khiêu gợi mạch sầu
của chồng nữa.
Một
buổi sớm mơi, đến giờ nhơn viên sở
bưu điện phát thơ, th́ người giữ
cửa hăng lănh đem vào để trên bàn của Nghiệp
một chồng thơ hơn 10 cái.
Nghiệp
ngồi lần lượt xé từng bao lấy thơ ra mà
đọc. Đến bao thứ ba, gồm một
bức thơ có một tờ nhàu nhè kèm theo,
Nghiệp đọc bức thơ vừa được
ít hàng th́ biến sắc, bật ngửa, lưng dựa vào
bộ ghế, chăm chỉ mà đọc.
BỨC THƯ CỦA XĂ
LƯƠNG
Prok (An Khê), ngày 27 tháng 3
năm 1942.
Kính gởi ông Lê Thành
Nghiệp chủ hăng xe hơi Việt nam
ở đại lộ De La Somme
Sài G̣n.
Thưa ông.
Vâng lời quan phủ hưu trí, quí danh là Vơ Như B́nh
tôi ghim theo thơ nầy mà gởi cho ông một tờ mà do
tay ngài viết để bày tỏ nỗi ḷng hối
hận của ngài.
Từ 4 tháng nay, ngài đau ruột hay đau bao tử
điều đó tôi không biết chắc v́ tôi hông phải
là thầy thuốc. Tôi có xin ngài để cho tôi đưa
ngài về Sài G̣n đặng ngài kiếm lương y
chuẩn mạch mà điều trị. Tôi năn nỉ
hết lời mà ngài không chịu đi. Cứ ở ngoài
nầy uống thuốc nam, thuốc mọi, không có
hiệu quả chi hết, nên bịnh càng ngày càng thêm
nặng, rồi phải mạng chung.
Tờ nầy tôi thấy ngài cặm cụi ngồi
viết, lúc bịnh chưa nguy lắm, song có lẽ ngài
đă hết hy vọng sống được nữa. Đến
giờ chót, ngài mới giở áo gối rút tờ ấy ra
mà trao cho tôi, và căn dặn hễ ngài mất th́ làm ơn
chôn cất cho xong, rồi sẽ gởi tờ ấy vào cho
ông, theo địa chỉ ngài có biên đó.
Ngài tắt hơi tại nhà tôi, hôm ngày 20 tháng 3
dương lịch nầy, hồi 7 giờ tối,
tắt hơi trong tay tôi đương ngồi một bên
mà đỡ ngài. Ngài không có trối một lời chi hết , duy chảy nước mắt
rồi thở ra mà đi xuôi.
Tôi lo chôn cất tử tế, đào huyệt trên
triền một cái đồi nhỏ nằm phía sau
vườn trà của tôi. Tôi có khắc mộ chí mà cặm
trước mộ. Ngài nằm chỗ đó cao ráo, cảnh
chung quanh rất đẹp. Tôi đă làm xong phận sự
đối với một ông bạn đường,
đồng phiêu lưu đất khách với tôi. Vậy
bây giờ gởi tờ nầy đến cho ông rồi,
th́ tôi làm vẹn vẽ các điều ngài phú thác.
Trân trọng kính chào ông.
Trần Hiền Lương
Chủ vườn trà ở xóm Prok
gần
An Khê - Kon Tum.
TỜ DI NGÔN CỦA VƠ
NHƯ B̀NH
Chừng tôi chết và chôn
cất tôi xong rồi xin làm ơn gởi dùm thơ nầy
cho Lê Thành Nghiệp, chủ hăng xe hơi hiệu “Việt
Nam” ở đại lộ La Somme trong thủ đô Sài G̣n.
Con người lúc trẻ
tuổi, khí huyết mạnh mẽ, nên hăng hái lập
chí tấn thủ; lại thêm sống với đời
vật chất hoàn toàn nên phải ham muốn tiền
bạc cho nhiều, v́ nếu thiếu tiền bạc th́
không thể nào có danh dự được.
Lúc tôi c̣n
nhỏ tôi gặp cảnh đời như vậy, tự
nhiên tôi bị phong trào tham danh háo lợi đó nó lôi cuốn
đi, cũng như nó lôi cuốn cả ngàn ngàn muôn muôn
người khác.
Vừa
lớn lên, tôi bắt đầu kết nghĩa vợ
chồng với cô Huyền, là con gái của một ông
thầy thuốc ở Chí Hoà, sanh được một
đứa con trai, đặt tên là Nghiệp.
Cách ít tháng sau, may gặp
tiền tŕnh rộng mở, tôi phủi cả vợ nghèo
con nhỏ mà gây cuộc vợ chồng khác với một
goá phụ giàu có lớn, tên cô Hai Hương ở B́nh
Thuỷ, mong nhờ gia tư phong phú của người
vợ mới mà xây dựng một địa vị giàu
sang rực rỡ cho mau.
Thật đường
công danh tôi bước lên rất lẹ và rất mau, trót 25
năm trường tôi mê man khoái lạc giữa cảnh
đời tốt tươi sáng lạng, oai quyền
lừng lẫy, tiền bạc dẫy đầy.
Tưởng là địa
vị giàu sang ấy sẽ vững chắc lâu đời,
nào dè đường vinh hoa đi chưa hết, mà sung
sướng lại sụp đổ nửa chừng, trong
có mấy tháng mà danh dự vỡ tan, bạc tiền tiêu
hết.
Mấy năm nay tôi suy
nghĩ lại, tôi muốn đổ sự thất bại
th́nh ĺnh đó cho mạng số để an
ủi nỗi ḷng. Nhưng sự ăn năn
hối hận vẫn cứ hừng hực trong thâm tâm,
vởn vơ trong trí năo, ăn năn về sự tôi
bội nghĩa vợ con, mà cũng ăn năn về
sự tôi bốc lột thiên hạ.
V́ sự ăn năn
đó mà năm nọ t́nh cờ tôi gặp lại con tôi là
Nghiệp ở Nha Trang, th́ tôi đau đớn hết
sức, đă đau đớn mà thêm hổ thẹn nữa,
đau v́ được giáp mặt con mà không
được nh́n con, hổ v́ ham trèo lên cao nên phải sa
suống thấp. Lúc ấy tôi liền muốn tự
vận phứt đi cho rồi, đặng chấm
dứt cảnh đời của tôi cho tôi hết đau
khổ hổ ngươi, mà cũng cho con tôi nó không hay
biết thói xấu xa của đấng sanh thành ra nó,
khỏi ghi một đốm đen trong hạnh phúc
tươi cười của nó vừa mới cấu
tạo.
Nhưng tôi
lại nghĩ ở đời hễ có vay th́ phải
trả. Tôi đă làm quấy th́ tôi phải đền
tội, không được phép t́m cái chết mà trốn
tội, v́ vậy nên tôi không tự vận, tôi chỉ
bỏ đất Nha trang cho khỏi gặp lại con tôi
nữa bỏ đi cho xa mà tá túc nơi đất lạ
nhà người, để vùi lấp cảnh h́nh hài tội
lỗi đê hèn trong đớn đau cực nhọc,
hoặc may có chuộc tội được chút ít.
May tôi gặp
được người quen, hồi trước
cũng v́ ham bạc tiền nên có tội phải kiếm
chỗ ẩn thân, người sẵn ḷng cho tôi đùm
đậu, nên trót năm năm nay tôi được an
thân, mà an là an về phần xác mà thôi, chớ về
phần trí th́ luôn luôn tôi vẫn hối hận không bao
giờ tôi được thơ thới.
Hôm nay tôi có
bịnh, có bịnh nhiều, chắc không c̣n sống
được nhiều ngày nữa. Tôi ráng ngồi
viết tờ nầy để bày tỏ ḷng hối
hận với đứa con trai mà ngày xưa tôi đành
bỏ bê nó trong lúc nó chưa biết đi, chưa biết
nói, để cho nó nhờ người khác nuôi dạy cho nó
khôn lớn và nên danh.
Tôi phải
viết tờ nầy là v́ tạo hoá trớ trêu, khiến
đứa con tôi bỏ, nó lại cưới đứa
con ghẻ bỏ tôi.
Hai đứa gần nhau,
tôi sợ e chẳng sớm th́ muộn con tôi nó sẽ t́m
biết nguồn cội tối tăm của nó, rồi
vợ chồng đều thù oán vong linh của tôi,
đứa th́ oán tôi phụ phàng mẹ nó, đứa th́ oán
tôi phá hư tiết hạnh của mẹ nó. Tôi phải
viết tờ này mà yêu cầu cả hai rộng ḷng tha
thứ cho người lầm lỗi ăn năn
hối hận.
Ngày nay con tôi nó nhờ do
đường thẳng ngay đứng đắn mà
lập thân. Nó được thành công rỡ ràng, đă có
danh lớn mà là danh thơm tho, lại
thêm có của nhiều mà lại thêm của chánh nghĩa. Nó
đương say sưa với hạnh phúc. Tôi
chắc nó sẽ sẵn ḷng hỷ xả cho người
thân sanh nó đă mang nặng tội lỗi ở
dương trần.
Sắp nhắm mắt mà
xa lánh mùi đời, tôi không muốn ôm theo
ḷng hối hận. Vậy tôi thành thật nh́n nhận
cả hai tội lỗi của tôi ,
lỗi với con tôi, và lỗi với bà mẹ nó.
Mà tôi xét
kỹ nghĩ xa, th́ tôi thấy dường như, lỗi
ấy chẳng phải tại do chơn tánh của tôi gây
ra, có lẽ một phần tại giáo dục và một
phần tại xă hội.
Giáo dục mà nhằm
mụch đích no cơm ấm áo, nuôi chí hướng dua
bợ người trên để vơ
vét kẻ dưới, giáo dục dường ấy th́ làm
sao biết được chỗ thúi hôi mà tránh.
C̣n xă hội mà mọi
người đều lo tranh đua cướp giựt,
ai được tiền nhiều là khôn, ai được
trèo cao là quí, ai không có tiền là dại, ai chịu ngồi
yên là ngu.
Học
tập với giáo dục như vậy, sanh sống
giữa xă hội như vậy, th́ làm sao tôi khỏi đi
sai đường, làm sao tôi khỏi vướng tội
lỗi.
Nói như
vậy chẳng phải tôi có ư viện lẽ chữa ḿnh
mà gở tội lỗi. Không, tôi
chẳng hề tính gở tội, sở dĩ tôi nói ra là v́
tôi muốn vạch cho con tôi thấy rơ hoàn cảnh khiến
cho tôi phải mang tội lỗi mà thôi. Thật
dầu con tôi không khứng hỷ xả tội của tôi,
th́ tôi cũng phải chịu, chịu mà không phiền, không
trách.
Trên đây là những
lời thành thật thốt ra để bày tỏ nỗi
ḷng hối hận của nạn nhân thời đại
sắp chết là “ VƠ NHƯ B̀NH”.
Lê Thành
nghiệp đọc dứt rồi sắc mặt buồn
hiu, chớ không khóc. Nghiệp xếp
kỹ lưỡng mà đút tờ di ngôn của Vơ Như
B́nh với thơ của Hiền Lương vào bao rồi
bỏ vào túi áo. Nghiệp khoanh tay
rồi ngó lên trần mà suy nghĩ rất lâu. Bây giờ
Nghiệp mới rưng rưng
nước mắt.
Nghiệp đứng
dậy, tính đi xuống xưởng sửa xe mà kiếm chạ May lúc ấy Lê Thành Cang
đương lên bàn viết mà ngồi. Nghiệp đón
trao cả phong thơ cho cha mà nói:
- Ba đọc thơ trong
bao nầy mà coi ba.
Cang lấy phong thơ mà
hỏi:
- Thơ của ai vậy?
Nghiệp không trả
lời, liền trở lại bàn viết ngồi tiếp
mở mấy bao thơ khác ra mà
đọc.
Phía bên kia,
Cang ngồi đọc thơ của Hiền Lương
rồi đọc tới của Như B́nh, Cang đọc
thật kỹ, nên đọc rất lâu. đọc
xong rồi, Cang bỏ hết vào bao, bước lại
trả cho Nghiệp và nói:
- Người lỗi
lầm mà biết ăn năn th́ cũng
đáng cho con kính mến. Mà gặp con rồi, biết
trốn tránh con, cử chỉ như vậy không tệ
lắm. Tuy không dưỡng , song có công
sanh, bây giờ người đă mất rồi con phải
làm cho trọn niềm phụ tử, con phải đi ra An
Khê, t́m cho thấy mồ mă của đấng thân sanh. Con
phải kiếm thế mà xây mồ cho ấm cúng. Ba muôn cho
con làm việc nghĩa đó, ba chắc má con cũng không
cản trở đâu.
Nghiệp
ứa nước mắt. Cang xây lưng mà trở
xuống xưởng sửa xe.
Tuần sau Nghiệp
với Hoàng lên xe hơi mà đi An Khê
cũng có Sáu Bính với Tư Cầu theo hộ tống. Trên con
đường quốc gia rộng răi, chiếc xe hơi lộng lẫy chạy bon bon.
Lần
nầy Nghiệp với Hoàng đi mà chẳng phải
đi kiếm cuộc vui, hay đi xem nguồn lợi, chánh
là đi cho trọn t́nh, đi đặng đáp nghĩa.
Thanh niên tân tiến đă
ham vui, mưu lợi, mà cũng báo nghĩa, th́ quí hoá vô cùng!
Đáng mong mỏi thay!
HẾT