Báo hiếu - Nguyễn công Hoan
Mưa phùn. Gió bấc. Rét buốt đến tận xương.
Nhưng mưa, gió, rét, có hề chi
đến bữa tiệc giỗ ông cụ đẻ ra ông
chủ hiệu xe cao su kiêm chủ hãng ôtô
"con cọp"? bởi vì trong
buồng khách, cửa đóng kín mít, hơi lửa lò sưởi
xông lên nóng rực. mà khách đến
chơi, ông nào cũng gói mình vào đến trăm thứ
áo, lại xù xù ở cổ một chiếc chăn con!khách
đến dự tiệc toàn là hàng ông nọ ông kia, danh giá,
mà ông chủ nói là chỗ thân. Cho nên cố mời cho kỳ
được, vì chính ông cũng là hạng tai
mắt trong phố phường. Ông là nhà tư bản
vậy!
Vả
lại, không nhân ngày giỗ bố, mà làm bữa tiệc cho
thực linh đình, mời mọc cho thực đông khách,
để tỏ rằng mình tuy nhờ trời làm ăn
đã được khá, nhưng chẳng phải hạng
uống nước quên nguồn, bởi đạo làm con
là phải báo hiếu cho cha mẹ, để khỏi
phụ công sinh thành dưỡng dục, thì thế gian
họ cũng cười cho. Nghề thế, phú quý sinh
lễ nghĩa.
Mà phú quý sinh lễ nghĩa thực. Chẳng
tin cứ nhìn cách cử chỉ của hai ông bà chủ nhà ra
đón tiếp khách thì đủ rõ. Hai ông bà cùng béo tốt,
đẹp đẽ, nhất là ông, cái bụng
phưỡn ra, nấp trong bộ quần áo xếp nếp
cứng thẳng như cái hộp, tóc bóng mượt,
nhẵn như cái gáo lĩnh úp trên đầu, không chịu
kém vẻ đẹp với bộ ria sửa khéo như
vẽ.Miệng lúc nào cũng chực toé ra một chuỗi
cười. Vì ngày hôm nay, bổn phận ông là phải hay
cười. Mà đã cười thì cười cực to,
ôm bụng mà cười, cười cả từ câu nói
buồn cười đến câu nói không buồn
cười. Nghĩa là ông hết sức khoe cái cười
lấy lòng, cái cười thiệp đời của nhà
tư bản. Phải, người ta đã chẳng
quản mưa, gió, rét mướt, mà quá bộ đến
nhà để chiếu cố thì mình phải lấy làm hân
hạnh, vui vẻ mới được. Cho nên ai
đến, ông cũng chắp tay vái chào cung kính, rồi
mời mọc ân cần, quý quý, hóa hóa, ăn nói rõ ra một
nhà nền nếp, gia giáo.
Trong buồng
ăn, tiệc đã dọn trên bàn, cái bàn chữ nhật,
giải trên một tấm khăn trắng nuột. cốc to, cốc nhỏ, chai lớn, chai con,
bát sứ, đĩa tây, bày la liệt, nhưng có thứ
tự, lóng lánh dưới ngọn đèn trăm nến.
Chuông sáu giờ vừa dứt. Khách
đến đã đủ, một tiếng ông chủ
mời, thì một trăm bốn tư chiếc chân,
vừa chân người vừa chân ghế, lê sền
sệt trên nền gạch tây bóng lộn. Hai mươi
bốn chiếc cốc đầy rượu đụng
nhau, chủ khách bắt đầu cầm đũa.
- Xin ngài cho phép chúng tôi vào vô phép bà chủ.
Câu nói vừa dứt, thì đã thấy bà chủ
ở trong buồng đi ra, chắp tay,
tươi như cái hoa:
- Các quan đã có lòng yêu chúng tôi, mà đến
chiếu cố bữa cơm thường nhà chúng tôi, chúng
tôi xin đa tạ. Xin rước các quan
xơi rượu.
- Chúng tôi chẳng dám tin là bữa cơm
thường! Kỵ cụ cố ông mà ông bà làm to thế
này, thì chúng tôi tự xét mình lấy làm xấu hổ vì
bất hiếu. Thôi nhờ bà nói giúp cho chúng
tôi xin vô phép cụ cố bà.
- Thưa các quan, cảm ơn các quan, cụ
bà chúng tôi ở trong nhà quê ạ. Nhiều lần chúng tôi
mời ra ở đây, nhưng không chịu đi. Cho nên chúng
tôi vẫn lấy làm ân hận lắm.
Cái lễ phép tắc trách đã làm xong,
chủ khách ăn uống rất êm
đềm vui vẻ. Êm đềm vui vẻ thực! Sung
sướng thay! Củi lò sưởi nổ đôm
đốp, át cả tiếng giọt mưa phùn. Chuyện nói to làm lấp các tiếng gió bấc
thổi. Hơi rượu nồng nàn, ai nghĩ
đến rét buốt thấu tận xương.
Mưa phùn. gió bấc. rét buốt thấu tận xương.
Ngoài
đường phố, ở quãng trước cửa nhà
có bữa tiệc này, có một người đàn bà,
lưng khoác áo tơi lá, đầu đội chiếc nón
nghệ, dáng điệu bỡ ngỡ. Bà dòm hết nhà
nọ đến nhà kia, mà lại dòm
một cách ngốc dại. Nghĩa là không
nghĩ đến rằng lỡ người ta
đuổi, hay mắng, cho là định rình ăn cắp,
người ta bắt lên cẩm thì sao? dòm
chán rồi lại hỏi thăm.Mà hỏi chỉ
độc nói trống không. Khi chẳng ai hoài
hơi mà trả lời, thì bà ta cũng không biết phàn nàn
hoặc sửa lại câu hỏi cho nhã nhặn thêm chút ít.
Ấy thế rồi chịu đứng ngoài
đường, như yên trí rằng ở đây cũng
như ở nhà quê, không có xe pháo qua
lại. Bà lại nhìn quanh quẩn từng nhà một...
Hàng
mười lăm phút, bà ta loanh quanh, đi lại
đến năm sáu lượt, rồi nhận thấy
một cái nhà có cái mái chĩa ra, bà bèn đứng lại
để trú mưa. Người đàn bà ấy trạc
ngoài sáu mươi, trông rõ quê mùa, đần ngốc,
mặt mũi đen đủi, nhăn nheo, xấu như
con khỉ. Hai mắt thì toét nhoèn những
dử. Cái hàm trên thì chìa ra như mái hiên.
Hai tay thì lóng cóng, dí cái nút buộc giải
yếm vào tận mắt, lúng túng cởi mãi mới lấy
được một miếng trầu, bỏ vào mồm,
nhai nhóm nhém. Trông lại càng xấu, cái áo vải nâu dầy
cồm cộp, cái quần một ống. Nói nôm ra, là cái váy
lùng thùng như cái bồ, chỗ thì ướt, chỗ thì
khô. Có lẽ là bộ cánh quý nhất, nên ra tỉnh, mới
dám mặc đến, nay bị ướt thì tiếc, nên
cố vắt mãi cho khỏi đẫm nước mưa.Rồi
lại cởi cái khăn vuông ra, để hở cái
đầu bạc trọc tếch mà gãi, nhăn mặt
lại mà gãi. rồi lấy ngay cái khăn
đội đầu ấy mà lau chỗ gấu váy có dính
đất. Gớm, sao mà người đâu lại có
người không biết thế nào là bẩn cả!
Rét đã run lên chẳng được,
lại còn cứ lẩm bẩm nói một mình. Không biết nói những gì? Tính công tính
việc hay là than thở, hay là vui thú cái chi chi? Nhưng
thế thực rõ là cái lối người từ thuở
bé chưa hề được thấy cái gì là hể
hả.
Đang ngồi thì bỗng đằng sau lưng
có tiếng cửa mở. người đàn bà nhà quê
quay lại, thì thấy trong nhà đèn điện sáng
trưng, lố nhố bao nhiêu người, hình như
ăn uống.Chỉ trông thoáng có thế thì thấy cửa
lại khép lại, và có người đi ra.
- Alê! Chạy! Chốc nữa hãy đến,
người ta vừa mới ăn!
Nói xong người ấy đi.
Bà lão nhìn theo, không hiểu họ bảo ai. Nhưng chừng cũng đoán rằng
người ấy là bồi biệc ở cái nhà này đây.
Cho nên, một lát sau, trông thấy người ấy
về, bà lão đứng ngay dậy, toan hỏi, nhưng
chưa nói được gì, đã bị mắng ngay câu
nữa:
- Alê! không đi đi thì
ông ấy ra bây giờ!
- Đây có phải nhà ông chủ
không?
- Ông chủ nào? Không biết! Alê! Đi!
Thế
rồi cửa lại hé ra, rồi áp lại. Người
ấy vào trong mất.
Bà lão cố
liều, rón rén bước lên bậc thềm cao, dòm qua
cửa kính. Vì đèn sáng, nên trông rõ lắm, rồi không
biết nghĩ sao, bà lấy tay sờ
mãi vào cửa để mở. Nhưng không biết cách nào,
bèn lay thình thình, như không sợ hãi gì cả.
Một người đứng
hầu chạy ra mở cửa. có lẽ là người ban nãy, cho nên thấy
bà lão thì đẩy ra, và nói:
- Đi! Chốc nữa...! Dạ!
Cánh cửa lại đóng đánh
thình. bà lão nhìn theo, thì thấy
người hầu ấy khoanh tay đứng nói gì với
một người đương ngồi ăn. mà chính vì đã trông thấy người
ngồi ăn ấy, nên bà lão mới dám bạo dạn
như thế. người ngồi
ăn ấy tức là ông chủ nhà, chủ hiệu xe cao su
kiêm chủ hãng ô tô "con cọp".
Ông chủ đứng phắt dậy,
phưỡn bụng đi ra mở cửa. bà
lão mừng rỡ, híp mắt, nhăn nhó cái mặt
để cười và nói to tướng:
- Thành ra tôi ngồi ngay ở cửa nhà mà
không biết!
Ông chủ nhà cau mặt, ra ý không bằng
lòng, tặc lưỡi một cái. rồi
cánh cửa lại đóng ập lại.Bà lão không hiểu
ra sao. hay là mình trông lầm chăng. ấy thế mà còn ngốc quá, bà cố
cạy và đẩy mãi cửa nhưng may, không sao
đẩy được. nhìn theo vào, bà thấy cái nhà ông
ấy đi tuột vào trong, mà khi ra ngồi vào bàn tiệc,
thì lại cười nói như trước.Độ
mười lăm phút sau, có người đập tay vào
lưng. bà lão quay lại, thì người
ấy nói:
- Tôi đưa bà cụ đi vào cổng
đằng này, ông tôi bảo thế.
- Không đi được lối này à?
- Ông tôi đương có khách.
Bà lão bước xuống thềm, đi theo. vòng hai phố thì
đến một cái cổng hơi rộng. cổng
mở, bà bước vào, đi qua một cái sân, thì
đến cái nhà con, trong có chiếc ôtô bóng nhoáng. người ấy bảo:
- Bà cụ ngồi tạm đây.
Bà lão nhìn bốn bên. Đèn tuy
sáng, nhưng cũng không hiểu mình ngồi tạm nhà ai. mà nói rằng ngồi, chứ có cái gì
để ngồi đâu. vả muỗi
và hôi thối quá. nên chỉ mong chóng có
người đưa về, để lễ và
để nằm nghỉ. vì đi xe ngót
một giờ đồng hồ cũng mệt. bà lão nóng ruột quá ,nhưng may sao, một
lát sau thấy có người đi đến. bà lão nhờ nhắn ông chủ xuống cho
mình hỏi.
Độ
mươi phút, quả nhiên có tiếng gót giày lộp
cộp nện trên sân gạch. bà lão
cố nhìn xem ai. mừng quá.thật
đích là ông chủ.
Ông chủ đứng trước mặt bà
lão, nét mặt hầm hầm, trợn mắt, khoanh tay vào ngực mà gắt:
- Một suýt
nữa thì làm tôi ê cả mặt! ai
bảo bà ra làm gì?
Bà lão chưa kịp trả lời cái câu
hỏi không ngờ, thì đã bị mắng luôn mấy câu
nữa:
-Tôi đã cấm bà không được ra
đến đây kia mà. Đã một
lần trước rồi, mà không chừa! bà
không biết để sĩ diện cho tôi! Đây này, bà
cầm lấy! bà về đi! mặc kệ bà! bà
phải về ngay bây giờ! mới có
hơn bảy giờ, còn sớm! nói xong,
ông ấn vào tay bà lão một cái tròn tròn, rồi quay gót
trở lên, và gọi rầm rĩ:
- Thằng bếp đâu rồi! mày đưa bà ấy ra! mà
mày phải bảo chúng nó rằng tao cấm, không
đứa nào được kéo bà ấy cả! cho mà đi bộ để bận sau mà
chừa.
Bà ấy là ai? bà ấy là
một người đàn bà góa. Đã ngoại ba
mươi năm nay, có một đêm, bà ấy trót dại
chiều chồng, mà tình cờ đẻ ra được
một đứa con trai. sinh
được ít lâu, trời bắt tội bà ấy goá
bụa. nhà nghèo, làm ăn vất vả, kiếm chẳng
ăn đủ, nhưng bà ấy chẳng nhẫn tâm
bỏ đứa bé thơ ngây trả nhà chồng
để bước đi bước nữa mà vui thú
với cái tuổi xuân đương hơ hớ. qua mấy năm khó nhọc, khi sài, khi
đẹn, suýt chết mấy lần, thì đứa bé
đến tuổi đi học. rồi
vì nghèo khổ quá, nó phải ra tỉnh kiếm ăn theo anh
em. nhờ được cái nó nhanh
nhẩu, láu lỉnh, liều lĩnh, mà chẳng biết nó
làm ăn ra sao, nó có được ít vốn, rồi
lấy được ở đâu một con vợ
giầu. từ đó, thằng ấy
một ngày một khá, buôn bán phát tài. nay
giàu đến hàng mươi vạn. Thằng con ấy
tức là ông chủ hiệu xe cao su kiêm
chủ hãng ô tô "con cọp" vậy.
Bà lão lẩy
bẩy, theo người bếp lôi ra
cửa ban nãy. Đến đường, còn
đương ngơ ngơ ngác ngác, chưa rõ nên đi
lối nào, thì không biết tâm trí để đâu, bà ta
lập cập, vấp một cái, ngã xoài ngay ra rãnh cống.
quần áo mặt mũi lấm bê
bết. cái tròn tròn vẫn nắm trong tay
bắn quăng đi. bà lão cố sờ
soạng. khi tìm thấy, bèn gí vào mắt
để xem, thì cái tròn tròn ấy là đồng hào ván...
Mưa
để khóc, gió để rên. rét
để cắt đứt ruột mẹ người con
mà họ đương khen là hiếu tử.